Tính phức tạp của Giáo hoàng Francis được nổi bật

Viết bởi Hilary White vào thứ Sáu ngày 22 tháng Giêng, 2016.

Chiến tranh là hòa bình. Tự do là chế độ nô lệ. Lòng mộ đạo là vô tín ngưởng. Kitô hữu không theo Kitô giáo.

Một lần nữa, tương tự như chúng ta không có gì tốt hơn để làm, thế giới cộng đồng trực tuyến Công giáo truyền thống đang kinh ngạc! hoảng sợ! bị xúc phạm! vì một điều gì đó ĐGH Phanxicô đã nói. Phải là hôm thứ ba.Blackwhite

Lúc đầu tôi nghĩ rằng, có phải chúng ta vẫn đang làm điều này? Sau đó tôi đọc những đoạn trích của bài giảng Thánh Lễ hàng ngày của ngài tại Casa Santa Martha: “Kitô hữu ngoan cố trung thành ‘nó luôn được thực hiện theo cách này ‘, đây là lối, là đường họ phạm tội. Tội phỏng đoán”

À, tôi hiểu…

Chúng ta đều quen thuộc bởi giờ đây với thói quen có chuẩn mực trong việc nhục mạ ngài dành cho các tín hữu: “các học giả luật”, “các tiến sĩ luật”, “những Kitô hữu cứng nhắc” và tất nhiên, những kỳ công bí ẩn của sự việc khó hiểu, và yêu thích tất cả truyền thống ở khắp mọi nơi: ” tự cao tự đại, trung thành với một phong cách Công giáo truyền thống” (self-absorbed, promethean neo-pelagian!). Nếu quý vị có thể nhận ra nó có nghĩa là gì, quý vị được thưởng rồi đó! Ngài cho biết thêm một gợi ý hữu ích: “… những ai cuối cùng chỉ tin vào chính năng lực của mình và cảm thấy tốt hơn những người khác vì họ quan sát những quy tắc nhất định hoặc vẫn ngoan cố trung thành với một phong cách Công giáo cụ thể thuộc quá khứ …” Hiểu rồi chứ?

Người bạn tốt của chúng tôi và đồng nghiệp Chris Ferrara đã viết một chút trong tuần này về cách ngài Francis đã sử dụng một đoạn kinh thánh để thúc đẩy ý tưởng của ngài mà ai theo lề luật của Giáo Hội bị cho là dân gian ác, người từ chối mở lòng ra trước “Thiên Chúa của sự bất ngờ”. Chris từng hỏi liệu điều này có thể được thực hiện như là một dấu hiệu cảnh báo rằng ngài Francis không hoàn toàn nói tất cả như vậy, nếu quý vị biết những gì tôi muốn nói đến. Steve Skojec cũng từng có một cái nhìn hoàn chỉnh chú giải lỗi của Đức Giáo Hoàng. Tôi chắc rằng có nhiều hơn nữa nếu nếu quý vị tìm kiếm.

Các chủ đề có trong danh sách yêu thích của ngài: “Một tính đúng đắn phải có của giáo lý hay kỷ luật sẽ dẫn đến một tình trạng tôn thờ bản thân và độc tài, thay vì rao giảng Tin Mừng, một người lại phân tích và phân loại những người khác, và thay vì mở cửa để đón nhận ân sủng, một người lại dốc cạn sức của mình để kiểm tra và xác minh. “… Xin đừng, đừng có sự mỉa mai dưới đây …

 

Xin đừng theo dõi chặt chẽ những trò hề của Đức giáo hoàng trong thời gian ngắn vừa qua, tôi thừa nhận tôi không biết liệu ngài đã xác định trước Điều răn cụ thể nào mà chúng ta cứng nhắc, tự cao tự đại, tự mãn, phạm phải tinh thần kiêu căng của người Prometheus, nhưng trong trường hợp chúng ta đang thắc mắc, ngài nói với chúng ta trong tuần này khá rõ ràng rằng đó là Điều răn thứ Nhất. Ngoài ra, rằng cuộc sống của chúng ta là vô nghĩa. Và “bị vá víu” … bất cứ điều gì có ý nghĩa.

“Đó là tội của rất nhiều Kitô hữu đang bám vào những gì đã luôn được thực hiện và những ai không cho phép người khác thay đổi. Và họ kết thúc với một nửa cuộc sống, [một cuộc sống vốn là] bị vá víu, bị sửa đổi, vô nghĩa.

“Kitô hữu ngoan cố duy trì “nó luôn được thực hiện theo cách này”, đây là lối, là đường họ phạm tội: tội bói toán. Đó là nếu họ bắt đầu bằng cách đoán: “Những gì đã được nói và những gì không thay đổi là điều quan trọng; những gì tôi nghe -từ bản thân mình và tấm lòng khép kín của mình – hơn là Lời của Chúa”. Tính bướng bỉnh cũng là tội thờ ngẫu tượng: các Kitô hữu là những người mắc tội cố chấp! Tội thờ ngẫu tượng. “Và cách này là gì, thưa cha? ” Hãy mở lòng với Chúa Thánh Thần, hãy phân định ý muốn của Thiên Chúa là gì.”

Rõ ràng chúng ta là những nhà huyền bí, đó là những gì chữ “bói toán” mang nghĩa thực sự, và do đó, vi phạm Điều răn thứ Nhất, mà theo Giáo Lý của Hội đồng Trent, đặt chúng ta trong số những người “rơi vào tà giáo, những người từ chối những gì Mẹ thánh Giáo Hội đưa ra niềm tin của chúng ta, những người trao niềm tin cho những ước mơ, xem bói, và ảo tưởng như vậy … ”

Vì vậy, theo giáo hoàng này, những ai từ chối dâng hiến hoàn toàn những gì Hội Thánh dạy vì lợi ích của một số loại “bất ngờ” thì đang bước vào “bói toán” và Giáo Hội nói với chúng ta bằng giáo huấn xa xưa và không thể thay đổi của Giáo hội rằng điều này có nghĩa là chúng ta là những kẻ lạc đạo người từ chối những gì Hội Thánh dạy.

Khó khăn với phần lớn những gì Đức Francis nói là loại mâu thuẫn nội bộ. Khi những ai hiểu rằng chữ “không” và “có” không thể giống nhau vào cùng một lúc lắng nghe ngài, chúng ta đã tách rời khỏi bị rối trí nơi những lời nói dông dài kỳ cục của ngài. Đây là bởi vì chúng ta tiếp tục cố gắng áp dụng các tiêu chuẩn thần học Công giáo vào những tuyên bố của ngài và các Luật Suy nghĩ Hợp lý vào những ý mà ngài biểu lộ. Chúng ta cố gắng giữ ống kính hợp lý và có tính Công giáo, và nó hóa ra khó hiểu và bị bóp méo.

Nhưng ngài Francis không suy nghĩ như một người Công giáo. Ngài là mô hình của một tu sĩ Dòng Tên rất hiện đại, và đây là những người lính tự hào vì đã “tiến xa hơn” các hạn chế cổ xưa của sự hợp lý, cảm nhận thông thường, vv Lắng nghe ngài Francis thì cũng giống như nghe bất cứ ai được đào tạo trong các hội đường của Trường học Hiện đại. Chỉ cần cố gắng đọc bài luận phê bình văn học hậu hiện đại thì sẽ có được ý tưởng.

Là một mẫu người thuộc loại hình đào tạo trí tuệ, ngài Francis không nghĩ về giáo lý như chúng ta, như là một mô tả chính xác về thực tại khách quan. Đối với GH Francis và linh mục dòng Tên của ngài và các học viện, đạo giáo chỉ là một tập hợp các ý tưởng chủ quan và nhiều hơn hoặc ít hơn tùy ý và những quy định mà một người thực hiện trong đầu và phù hợp với tình hình hiện tại. Những ý tưởng này, theo cánh đàn ông nơi trường của ngài, phụ thuộc vào ứng dụng của chúng cho tính hợp lệ của chúng. Ý tưởng có thể tốt chỉ khi chúng phục vụ một mục đích cụ thể.

Đối với cánh đàn ông thuộc thời đại và dòng suy nghĩ của ngài, bất kỳ ý tưởng nào – chẳng cần biết nguồn của nó ra sao – vốn không còn đáp ứng một mục đích được xem là hữu ích thì đơn giản phải được thay đổi hoặc loại bỏ. Bao gồm những thứ như: “Vì lòng dạ chai đá mà Moisê đã cho phép ngươi ly dị vợ mình; nhưng ngay từ đầu nó đã không được theo cách này. Và ta nói với các ngươi, ai rẫy vợ mình, vì cớ ngoại tình, và kết hôn với một người phụ nữ khác là phạm tội ngoại tình”.

Chúng ta đã thấy phản ứng này rõ ràng tại Thượng Hội Đồng, nơi chúng ta được bảo bởi một trong những hồng y do đích thân Đức Phanxicô chọn lấy rằng Chúa Giêsu phải được hạ xuống một hoặc hai lần, và học để thương xót hơn, giống như Môisê. Cái thứ khăng khăng cứng nhắc này về một đường lối vĩnh viễn là không thực tế. Thời thế đã thay đổi, chúng ta đang được bảo vậy. Thời nay con người đã khác, vì vậy “Chúa của sự bất ngờ” đã quyết định thay đổi mọi thứ. Không “phân biệt” đây là vì một “sự cứng ngắt” không hợp lý trong chính chúng ta.

Không ai trong số những người này sẽ hỏi liệu một ý tưởng như thế là “sự thật” hay không, vì khái niệm đó là một sự thật tuyệt đối và không thay đổi đang thật sự cần phải hủy bỏ. Một câu hỏi về “sự thật” không được họ hiểu theo đúng nghĩa như quý vị và tôi hiểu đâu. (Bằng cách này, bất cứ ai tưởng tượng những điều suy nghĩ ngược lại như vậy sẽ bị giới hạn trong các hội trường của Dòng Tên học viện chỉ cần nhớ lại thời điểm khi George Lucas bị Ewan McGregor nói ra dòng chữ xấu hổ muốn chết “Chỉ có thỏa thuận Sith trong tuyệt đối!” … Và chẳng một ai co rúm người lại.) Sự thật là không thích hợp. Chỉ có sự việc liên quan là có liên quan.

Giáo lý có thể được thay đổi – thực sự, phải được thay đổi – vì thời đại và con người thay đổi. Thiên Chúa cũng thay đổi bởi vì Người nảy sinh những ý tưởng mới mà các tín hữu có nghĩa vụ phải phân định, chủ yếu bằng cách lắng nghe các giám mục người Đức (những người không phạm “tội bói toán” cho dù ý tưởng của họ mâu thuẫn bao nhiêu với những lời của Chúa Giêsu Kitô trong Thánh Kinh.) Chẳng có những điều là sự thật bất biến vì chẳng có những điều mà thực tế không thay đổi. Thiên Chúa không có bản chất bất biến, con người cũng vậy. Vì vậy, bất cứ ai từ chối loại bỏ những ý tưởng cũ để đón ý tưởng mới thì chỉ có thể căn cứ quyết định của mình dựa trên cá nhân, “bói toán” điên cuồng dựa trên “những gì tôi nghe thấy – từ bản thân mình và cõi lòng khép kín của tôi.” Quyết định vẫn còn đúng với “khắp nơi, mọi lúc, do mọi người tin “, như Thánh Vincent Lerins gọi nó, là một người dựa trên một ” tâm hồn khép kín” và quyết định cá nhân -” bói toán “.

Tất cả điều này ít nhiều mang nghĩa, theo lý luận của Bergoglian, rằng một tín hữu Công Giáo thực sự là một người từ bỏ giáo huấn Giáo Hội khi anh ta được dạy bảo. “Hãy mở lòng với Chúa Thánh Thần, phân định ý muốn của Thiên Chúa là gì.” Làm thế nào? Đơn giản. Hãy làm như quý vị đang được bảo. Một điều chúng ta biết về Đức giáo hoàng này là ngài hoàn toàn nhận thức về quyền lực tối cao của mình, và rằng ngài thực sự tin rằng mình được trời phú trí khôn ngoan độc đáo để làm bất cứ điều gì được coi là cần thiết. Rõ ràng chúng ta đang để cho ngài “phân định” cho chúng ta; chẳng phiền đến cái đầu bé tí của chúng ta. Sự trớ trêu trở nên lờ đờ khi người ta nhận ra rằng đây là định nghĩa thực sự của một chủ nghĩa Prometheus tích cực theo kiểu nhà triết học người Đức Nietzschean: sự thật, thực tế chỉ luôn là những gì tôi đang nói, và tôi sẽ cho bạn biết khi nào nó sẽ thay đổi.

Nhiều người Công giáo đang được báo động về vị Giáo Hoàng này cũng đang rất nhầm lẫn vì ngài. Thật vậy, thật khó để không bị nhầm lẫn bởi một người đàn ông dường như không có khái niệm về một mâu thuẫn hợp lý và rồi vui vẻ và dường như vô thức mâu thuẫn với Kinh Thánh, giáo lý Công Giáo, những sự kiện tự nhiên bình thường và thường xuyên chính mình thanh thản từ bỏ. Một điều rõ ràng là từ nhiều cuộc phỏng vấn của ngài; ĐGH không nhận thức được tất cả những gì ngài đang gây nhầm lẫn và ngài không thể hiểu tại sao mọi người sẽ nghĩ như vậy. Hầu hết chúng ta không dành nhiều thời gian trong tổ chức Dòng Tên hoặc trong các cấp cao của học viện thế tục, nhưng tôi có thể đảm bảo với quý vị rằng Jorge Bergoglio không phải là bất thường.

Chủ yếu ngài là một người thuộc về thời đại và vị trí của ngài, đó là, đất nước Argentina vào thập niên1970, một thời khi các xung động tàn phá khắp Giáo Hội nhằm buộc tội bất cứ ai muốn dính vào những cách cũ đối nghịch với “làn gió” của Chúa Thánh Thần. Do có thể để học giả nào đó ảnh hưởng sai trái trên toàn bộ con người ngài, tuy nhiên, và được được thổi phồng quá lớn tại Nam Mỹ – nơi mà, rõ ràng, những năm thập niên 70 còn sống mãi – Jorge Bergoglio chưa từng nhận ra sự cần thiết để cân bằng hoặc sửa đổi ý kiến của mình. Với những người còn lại của chúng ta nơi đây, nơi mà Giáo Hội nói chung đã trở nên ôn hòa hơn so với 40 năm trước, những tuyên bố của ngài với thời gian được định rõ như vậy hầu như cho thấy ngài bị loạn trí.

Bài viết về ” toàn bộ cuộc phỏng vấn” mới bởi một trong những nhà biện giải lớn nhất của Đức Francis trên báo chí Ý, Andrea Tornielli, John Henry Westen viết trên LifeSiteNews.com rằng Đức Giáo Hoàng đang gắn bó bởi và thậm chí gấp đôi quan điểm của mình rằng “nhiều giáo sĩ trung thành cũng như những người quá cực đoan phủ nhận vốn đang thiếu lòng thương xót” một cách đặc biệt bởi vì họ nắm giữ các giáo huấn của Giáo Hội như là sự thật và không thể thay đổi.

Tornielli trích lời Francis nói về những người mà ngài gọi là “những nhà lề luật ” … “Tôi sẽ nói rằng thường có một loại đạo đức giả trong họ, một sự gắn bó chính thức đến lề luật vốn giấu đi vết thương rất sâu”. Đức Giáo Hoàng nói Chúa Giêsu “miêu tả họ là ‘phường đạo đức giả’ bên ngoài tỏ vẻ mộ đạo, nhưng bên trong, ngay bên trong … là kẻ đạo đức giả.” (Ah có, cũng chính Chúa Giêsu nói … “Môisê cho phép ly hôn, nhưng ta nói cho các ngươi biết … sự cứng lòng … phạm tội ngoại tình … ” chỉ ra những điều trớ trêu đang cạn kiệt).

Một cách ngắn gọn đây là vấn đề của ngài Francis với những tín đồ trung thành, và nó chứng minh rõ ràng rằng vấn đề của ngài là một tâm trí bị kẹt trong sự dối trá của năm 1976. Ngài đã hoàn toàn phủ nhận trong tâm trí của mình lựa chọn khả dĩ là một người Công giáo sẽ tỏ ra quan tâm đến hình thức truyền thống về lòng đạo đức hoặc những ai tin vào sự thật bất biến có thể thực sự mộ đạo. Một người Công Giáo sùng đạo và đạo đức luôn tôn trọng giáo huấn Công giáo, theo suy nghĩ này, luôn luôn và nhất thiết là một kẻ đạo đức giả.

Ý tưởng của ngài, tất nhiên, được dựa trên một kết quả tâm linh chính đáng, bị méo mó bởi một tâm trí bệnh hoạn có lẽ, nhưng dễ nhận biết. Ngài đã đạt một trình độ điên loạn, mối quan tâm nghe ra hoàn hảo khiến chúng ta có thể rơi vào cái bẫy của một lòng đạo đức giả của sự tuân thủ chỉ theo thói quen và thiếu suy nghĩ đối với bên ngoài. Đó là sự thật khiến chúng ta có thể đeo tất cả các ảnh tượng chúng ta thích, lần chuỗi thật nhiều trong một ngày, nhưng nếu ai lần hạt chỉ vì số lượng, sẽ có rất ít lợi ích tinh thần. Tất cả tác giả tâm linh đồng ý rằng một người phải toàn tâm toàn ý.

Khó khăn mà ngài Francis và những người cùng phe của ngài gặp phải là một người ủng hộ sự tính tuyệt đối một cách lý trí nói rằng bất kỳ và tất cả những ai công khai tỏ lòng đạo đức luôn luôn và chỉ là một dấu hiệu của điều này, một lòng đạo đức chỉ để phô diễn. (Một lần nữa, khá mỉa mai đến từ người đã từng tạo dựng một sự nghiệp từ trong ra ngoài sự khoe khoang có vẻ khiêm tốn – dấu hiệu đức hạnh) Như chúng ta một lần nữa chứng kiến trong ngày hôm nay, tôn trọng nghi thức Rửa Chân có tính thần học truyền thống vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh là một dấu hiệu của sự cứng nhắc này; chúng ta phải mở cửa cho nền thần học mới, những bất ngờ mới từ Thiên Chúa ( tất nhiên do chính ngài Francis giải thích).

Thật vậy, Francis và học viện của ngài đã khiến nó vượt xa hơn. Kiểu lý luận bệnh hoạn của ngài đã dẫn ngài vào chốn tột cùng kế tiếp mà theo đó cách duy nhất để thực sự đạo đức là phải không tín ngưỡng. Lòng mộ đạo thực sự duy nhất là lề thói. Đức tin tôn giáo chân chính duy nhất là một trong những nghi ngờ, đặt câu hỏi và cuối cùng chấp nhận dị giáo và thành tâm thực hành chính cống chỉ có thể có khi phản đối truyền thống.

Nghe có vẻ quen thuộc, phải không? “Tự do là nô lệ …” “Chiến tranh là hòa bình …” Lối suy nghĩ hai lần của Orwellian có lẽ đã gây rối trí đầu óc của ngài, như thể nó mang nghĩa đó. Thực tế đây chính xác là loại đồi bại trí tuệ mà Orwell đã được cảnh báo chống lại. Và như ngài đã nói với chúng ta trong cuốn sách nổi tiếng của mình, nó tạo ra một loại mù quáng vốn khiến một người có tính nhạy cảm rõ ràng trở thành cuồng tín về ý thức hệ. Người tín hữu thực sự của Ingsoc, chúng ta nhớ lại, là một người có thể mâu thuẫn với chính mình, biểu lộ các ý thức của mình hoặc ngay cả những xác nhận chính thức ngày hôm qua nếu người đó được nói đến. Trên thực tế Giáo Hoàng Francis là một người đã hoàn toàn từ bỏ những suy nghĩ của riêng mình và tự nguyện khiến mình làm nô lệ cho Đảng. Và một điều vốn đã được tỏ lộ rõ ràng ngay từ giây phút đầu tiên đức Francis xuất hiện vào đêm đầy phiền muộn đó là sự tận tâm không lay chuyển của ngài vào phía cuộc nội chiến ý thức hệ của Giáo Hội.

Một khi quý vị đã nắm bắt nguyên tắc đầu tiên tư tưởng của ngài Francis, hãy giơ ống kính này lên, những điều kỳ lạ và bị đứt quãng mà ngài nói về sự gian ác của những kẻ muốn “trong sáng” và “vững vàng” trong đức tin của họ trở nên dễ hiểu hơn. Đó là lý do tại sao ông ca ngợi “nghi ngờ” và tỏ ra khinh miệt và chế nhạo những phụ nữ ít tuổi biếu ngài những bó hoa thiêng liêng. (Vâng, cũng là vì ngài là một người thuộc tuýp mị dân bằng tác phong và tính cách của một người bảo kê quán ba, nhưng chủ nghĩa Perón của ngài là một chủ đề cho một ngày khác.) Đó là lý do tại sao ngài Francis từ chối rất nhiều những cạm bẫy bên ngoài của chức vị giáo hoàng, áo choàng trùm đầu ngắn của Giáo hoàng, giày dép và căn hộ của giáo hoàng và do đó ưa thích tất cả các màn phô trương của ngài về “khiêm tốn” như đi xe buýt và được người ta nhìn thấy mình đang lái một chiếc xe hơi nhỏ. Đây không phải là dấu hiệu của sự khiêm tốn cá nhân của ngài, chúng là những tín hiệu của sự tận tâm của ngài đến những hệ tư tưởng.

Khó khăn với tất cả điều này đó là hệ tư tưởng độc nhất. Quý vị không thể hết lòng cho nó và là một người Công giáo. Công giáo là một tôn giáo hoàn vũ vốn tuyên bố về bản chất của thực tại. Các hệ tư tưởng mà Đức Giáo Hoàng Francis tuân thủ, chính xác là của thế giới hiện đại “thế tục tích cực”, cũng tuyên bố về thiên nhiên này, tuyên bố vốn trái ngược với những người của Giáo Hội. Quý vị phải chọn điều gì sẽ tin tưởng và làm theo. Đây là lý do tôi đã nói nhiều lần, và sẽ tiếp tục nói, sự xuất hiện của đức Francis thực sự là một điều tốt chỉ khi hiểu được ngài và những tư tưởng ngài đang nắm giữ. Chúng ta cuối cùng đã chuyển qua khái niệm ngớ ngẩn “bảo thủ” mà hai điều trái ngược nhau có thể cùng được nắm giữ. Rằng một người có thể giữ một số giáo huấn của Giáo Hội và từ chối những giáo huấn khác. Chúng ta đang theo dõi thái độ thỏa hiệp trong việc đóng cửa Giáo Hội và sự cần thiết của việc lựa chọn một bên đang từng ngày phát triển cấp bách và rõ ràng hơn.

Gần đây, Đức Hồng Y Robert Sarah đã tự làm cho mình nghe rất ư xứng đáng với Giáo Hoàng, thực sự bằng cách chỉ đưa ra rất nhiều lời phê bình rõ ràng nổi cộm. Cuốn sách của ngài, “Thiên Chúa hoặc không có gì”  (God or Nothing) – mà tôi chưa từng đọc, và có lẽ sẽ không đọc – đã làm nổi sóng. Trong đó, ngài đã rõ ràng nói rằng vấn đề lớn nhất đối với Giáo hội là sự mất mát lớn về đức tin giữa những người tự coi mình là người Công giáo: “xã hội phương Tây được tổ chức và sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu. Chính người Kitô hữu, nhiều lần, đã tập trung vào một cuộc bội giáo thầm lặng”. Người ta phải tự hỏi cá nhân ngài bao gồm những ai nói riêng trong danh sách đó.

TC chuyển dịch từ: http://remnantnewspaper.com/web/index.php/articles/item/2276-the-blackwhite-of-pope-francis

Nếu quý vị nhận được bài viết này qua email và muốn đọc thêm những bài khác xin ghé vào trang thoisuthoicuoi.com để đọc.

Để bảo đảm tính xác thực của bài viết, yêu cầu những trang mạng đăng tải những bài viết của trang Thời Sự Thời Cuối phải trích rõ nguồn gốc.