Đức Giám mục Schneider: Giáo Hội đang “Thông phần vào Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô”

Hôm nay (01/02/2016), Rorate Caeli đăng cuộc phỏng vấn hoàn toàn cần thiết với sự xuất chúng của Đức Cha Athanasius Schneider của Astana, Kazakhstan. Họ đã ân cần cho phép các bản tin Công giáo khác tái xuất bản một cách đầy đủ bản tin mà ngày hôm nay chúng ta đang bàn luận ở đây.H.E. Schneider

Trong cuộc phỏng vấn này, Đức Giám mục Schneider trả lời câu hỏi về cuộc khủng hoảng trong Giáo hội, tiềm năng cho sự phân ly và tính chất gần như dị giáo của một số giám mục Công giáo, kết quả của Thượng Hội Đồng, truyền thống Công giáo, thái độ đúng của người Công giáo đối với Đức Giáo Hoàng (và liệu họ có thể bình luận về ngài hay không), vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội, Thánh Lễ La Tinh truyền thống (TLTT), và ngay cả những câu hỏi liệu Nga đã được thánh hiến cách riêng như Mẹ yêu cầu tại Fatima chưa.

Chúng tôi vẫn tin rằng Đức Giám mục Schneider là tiếng nói quan trọng nhất của Thiên Chúa đã ban cho Giáo Hội để dẫn chúng ta về phía Công giáo đích thực. Khi ngài nói, chúng ta lắng nghe.

(Tất cả nhấn mạnh trong bản dịch như sau được cung cấp bởi Rorate.)

Giáo Hội Sau Thượng Hội Đồng và những người không tín ngưỡng trong hàng Giáo phẩm

Rorate Caeli: Trong Thượng Hội Đồng gần đây, chúng con sẽ không biết tác động pháp luật mà nó sẽ có trên Giáo Hội trong một thời gian, vì nó tùy vào ĐGH Francis làm điều gì kế tiếp. Bất kể kết quả cuối cùng, đối với tất cả mọi ý định và mục đích, phải chăng đang thực sự có một sự ly giáo trong Giáo Hội? Và nếu như vậy, ý nghĩa thực tế là gì? Nó sẽ thể hiện bản thân ra sao đối với người Công giáo tiêu biểu đang ở những băng ghế kia?

ĐGM Schneider: Ly Giáo theo định nghĩa của Bộ Giáo Luật, can. 751 có nghĩa là: Từ chối phục tùng Đức Giáo Hoàng hay hiệp thông với các đấng bậc trong Giáo Hội đang phục tùng ĐGH. Người ta phải phân biệt khiếm khuyết trong niềm tin hay dị giáo từ ly giáo. Khiếm khuyết trong niềm tin hay dị giáo thực sự là một tội lỗi lớn hơn ly giáo, như Thánh Thomas Aquinas nói: “không tin là một tội chống lại Thiên Chúa, theo như Người chính là Đấng Chân Lý Đầu tiên, trên đó đức tin được thành lập; trong khi ly giáo thì trái ngược với sự hiệp nhất của Giáo Hội, vốn là một Giáo hội ít tốt lành hơn so với chính Thiên Chúa. Vậy nên tội không tin nói chung trầm trọng hơn tội ly giáo”(II-II, q. 39, a. 2 c).

Cuộc khủng hoảng của Giáo Hội trong thời đại chúng ta bao gồm trong hiện tượng ngày một gia tăng đó là những người không hoàn toàn tin và không tuyên xưng sự toàn vẹn của đức tin Công giáo thường chiếm những vị trí chiến lược trong đời sống của Giáo Hội, như giáo sư thần học, nhà giáo dục trong các chủng viện, các cấp lãnh đạo tôn giáo, các linh mục giáo xứ và cả giám mục và hồng y. Và những người này cùng với đức tin khiếm khuyết của họ xưng mình là đang phục tùng Đức Giáo Hoàng.

Tính nghiêm trọng của sự nhầm lẫn và vô lý thể hiện khi các giáo sĩ dị giáo như cáo buộc những người bảo vệ sự thuần khiết và tính toàn vẹn của đức tin Công giáo là những kẻ chống lại ĐGH – như là theo ý kiến riêng họ trong một số cách thức ly giáo. Đối với người Công giáo đơn thuần chỉ ngồi trên những băng ghế nhà thờ, một tình trạng nhầm lẫn như vậy là một thách thức thực sự về đức tin của họ, trong sự vững chắc của Giáo Hội. Họ phải giữ thật chắc tính toàn vẹn đức tin của họ theo những chân lý Công giáo không thay đổi, vốn đã được truyền lại qua cha ông chúng ta, và chúng ta tìm thấy điều gì trong các giáo lý truyền thống và trong các tác phẩm của các Giáo Phụ và các Tiến Sĩ Hội Thánh .

Rorate Caeli: Phát biểu của người Công giáo tiêu biểu, các linh mục giáo xứ điển hình ngày nay sẽ đối mặt với những gì vốn các ngài không phải đối mặt trước khi Thượng Hội Đồng đã bắt đầu? Những áp lực gì, chẳng hạn như rửa chân của phụ nữ vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh theo gương của GH Francis, sẽ đè nặng lên cha xứ thậm chí nhiều hơn gánh nặng ngày nay ngài phải vác?

ĐGM Schneider: Một linh mục giáo xứ Công giáo tiêu biểu nên biết rõ ý nghĩa lâu đời của đức tin Công giáo, ý nghĩa lâu đời cũng như của các luật phụng vụ Công giáo, hãy biết điều này, ngài cần phải có một sự chắc chắn và cương quyết nội tại. Ngài nên không ngừng nhớ lại nguyên tắc Công giáo về tính phân định: “quod sempre, quod ubique, quod ab omnibus”, tức là “Điều gì luôn luôn được tin tưởng và thực hành ở khắp mọi nơi và mọi thời”.

Các loại “luôn luôn, ở khắp mọi nơi, mọi thời” không được hiểu theo nghĩa con số, nhưng trong một ý thức đạo đức. Một tiêu chuẩn cụ thể để phân biệt là: “Liệu thay đổi này trong một sự khẳng định về tín lý, trong mục vụ hay trong một thực hành phụng vụ có tạo thành một đoạn tuyệt với điều cũ kỹ hàng thế kỷ, hoặc thậm chí với quá khứ ngàn năm? Và sự đổi mới này có thực sự làm cho đức tin tỏa sáng rõ ràng hơn và sáng hơn? Sự đổi mới phụng vụ này có mang chúng ta đến gần sự thánh thiện của Thiên Chúa, hoặc biểu hiện sâu sắc hơn và đẹp đẽ hơn những mầu nhiệm của Thiên Chúa? Sự đổi mới luật định này có thực sự gia tăng một nhiệt huyết lớn hơn cho sự thánh thiện của cuộc sống? “.

Như cụ thể cho sự đổi mới việc rửa chân cho các phụ nữ trong Thánh Lễ Bữa Tiệc Ly vào Thứ Năm Tuần Thánh: Thánh Lễ này cử hành tưởng niệm thiết lập bí tích Thánh Thể và chức Linh mục. Do đó, việc rửa chân phụ nữ cùng với những người đàn ông không chỉ làm sao lãng khỏi trung tâm điểm chính là Thánh Thể và chức linh mục, mà còn tạo ra sự nhầm lẫn về các biểu tượng lịch sử của “mười hai” và của các tông đồ là của nam giới. Truyền thống phổ quát của Giáo Hội không bao giờ cho phép rửa chân trong Thánh Lễ, nhưng thay vào đó là ngoài Thánh Lễ, trong một buổi lễ đặc biệt.

Bằng cách: rửa công khai và cũng thường hôn bàn chân phụ nữ đối với một người đàn ông, trong trường hợp của chúng ta, là một linh mục hay giám mục, bị mọi người có nhận thức thông thường trong mọi nền văn hóa coi là không đúng và thậm chí không đứng đắn. Tạ ơn Chúa không có linh mục hay giám mục nào bị ép buộc phải công khai rửa chân cho các phụ nữ vào Thứ Năm Tuần Thánh, vì không có tiêu chuẩn bắt buộc đối với nó, và cử chỉ rửa chân chính nó chỉ là tuỳ ý.

Thượng Hội Đồng và Giáo Hoàng

Rorate Caeli: Trở lại Thượng Hội Đồng, trong khi tập trung vào truyền thống, theo tài trí Cha có tin rằng những thay đổi trong phụng vụ Rôma sau Vatican II đã đóng góp vào cuộc khủng hoảng hiện nay trong Giáo Hội, cuộc khủng hoảng của hôn nhân, gia đình và đạo đức xã hội nói chung?

ĐGM Schneider: Tôi sẽ không khẳng định điều này trong một cách như vậy. Thật vậy, nguồn của cuộc khủng hoảng hiện nay trong Giáo Hội, cuộc khủng hoảng của hôn nhân, của gia đình và của đạo đức nói chung không phải là cải tổ phụng vụ, nhưng những khiếm khuyết trong đức tin, chủ nghĩa tương đối về tín lý, từ đó tuôn ra chủ nghĩa tương đối về luân lý và phụng vụ. Vì nếu tôi tin vào một cách thức khiếm khuyết, tôi sẽ sống một đời sống luân lý khiếm khuyết và tôi sẽ tôn thờ trong một cách thức thờ ơ khiếm khuyết. Đó là điều cần thiết đầu tiên để khôi phục lại độ sắc nét và vững chắc của giáo lý đức tin và đạo đức ở tất cả các cấp và, từ đó, bắt đầu cải thiện phụng vụ. Tính toàn vẹn và vẻ đẹp của đức tin đòi hỏi sự toàn vẹn và vẻ đẹp của đời sống đạo đức của một người và điều này đòi hỏi sự toàn vẹn và vẻ đẹp của sự công khai thờ phượng.

Rorate Caeli: Vẫn về chuyện Thượng Hội Đồng, thật rõ ràng đối với những ai có mắt nhận thức rằng Giáo hoàng Francis đã gây ra sự nhầm lẫn thay vì tính trong sáng trong quá trình Thượng Hội Đồng, và khuyến khích một xoay chuyển về phía gây bất hòa bằng cách nâng cao vai trò của Hồng Y Kaspar và Danneels, Đức Tổng Giám mục Cupich, vv . thái độ đúng đắn một người Công giáo nên có đối với Đức giáo Hoàng trong những thời điểm khó khăn này là gì? Người Công giáo có bị bắt buộc phải đưa ra quan điểm của mình và “chống” như Đức Hồng Y Burke cho biết trong một cuộc phỏng vấn hồi năm ngoái với chúng con, ngay cả khi quan điểm của họ là phê bình ĐGH?

ĐGM Schneider: Đối với nhiều thế hệ trong quá khứ cho đến thời đại chúng ta có những triều đại trong đời sống của Giáo Hội một loại “trung lập đối với giáo hoàng” hoặc một loại “tôn thờ giáo hoàng” vốn dĩ chắc chắn là quá mức so với tầm nhìn trung bình và siêu nhiên của con người về ĐGH và tôn kính ngài như một vị thánh trong thời gian qua. Một thái độ quá mức như vậy đối với con người của Đức Giáo Hoàng trong thực tế tạo ra một ý nghĩa thần học quá đáng và sai lầm về các tín điều bất khả ngộ của Giáo Hoàng.

Nếu ĐGH muốn nói cho toàn bộ giáo hội phải làm một cái gì đó, vốn sẽ trực tiếp phá hủy một chân lý không thể thay đổi của Thiên Chúa hoặc một điều răn của Thiên Chúa, mọi người Công Giáo sẽ có quyền sửa sai ngài trong một hình thức tôn trọng đúng đắn, loại bỏ sự tôn kính và tình yêu dành cho chức phận thiêng liêng, và con người của ĐGH. Giáo Hội không phải là tài sản riêng của ĐGH. Ngài không thể nói “Tôi là Giáo Hội”, như vua Pháp Louis XIV từng nói: “. L’Etat c’est moi” ĐGH chỉ là vị Đại Diện, không phải là người kế nhiệm của Chúa Kitô.

Những điều quan ngại về tính trong sạch của đức tin cuối cùng là một vấn đề của tất cả các thành viên của Giáo Hội, vốn dĩ là một, và là một cơ thể sống duy nhất. Trong thời cổ đại trước khi giao phó cho một người nào đó chức phận của một linh mục và của một giám mục, các tín hữu được hỏi liệu họ có thể đảm bảo rằng ứng cử viên đó đã có đức tin đúng đắn, và một phẩm chất đạo đức đầy đủ. Giáo Hoàng Rôma cũ nói: “Người chỉ huy một con tàu và hành khách của nó cũng như có lý do để cảm thấy an toàn hay không khi gặp nguy hiểm trên một chuyến đi, do đó họ phải nhất trí trong lợi ích chung của họ”. Chính Công Đồng Vatican II, trong đó khuyến khích rất nhiều các tín hữu giáo dân đóng góp vào lợi đích thực của Giáo Hội, trong việc tăng cường đức tin.

Tôi nghĩ rằng trong một thời gian, trong đó phần lớn những người nắm giữ các phận sự của Huấn Quyền cẩu thả trong nhiệm vụ thiêng liêng của họ, Thời nay Chúa Thánh Thần kêu gọi, cụ thể là các tín hữu, hãy bước vào các vi phạm và hãy can đảm bảo vệ một đức tin Công giáo đích thực “Hãy suy nghĩ cùng với Giáo Hội ” (sentire cum ecclesia).

Truyền thống và kẻ thù của nó từ bên trong

Rorate Caeli: Liệu giáo hoàng thước đo truyền thống, hay là ngài được đo lường bằng truyền thống? Và người Công giáo trung thành có nên cầu nguyện cho Giáo hoàng truyền thống sớm đến?

ĐGM Schneider: ĐGH chắc chắn không phải là thước đo truyền thống, nhưng ngược lại. Chúng ta phải luôn luôn nhớ những điều giảng dạy giáo điều sau đây của Công đồng Vatican I: Chức phận của những người thừa kế Thánh Phêrô không bao gồm trong việc khiến một số học thuyết mới được biết đến, nhưng trong việc bảo vệ và trung thành giải thích kho tàng đức tin được truyền qua các tông đồ (x Constitutio dogmatica Pastor aeternus, cap. 4).

Trong khi thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của mình, ĐGH phải phấn đấu để “cả đàn chiên của Chúa Kitô có thể tránh xa những thực phẩm độc hại của lầm lỗi” (Công đồng Vatican I, IBD). Biểu hiện sau đây vốn đã sử dụng từ những thế kỷ đầu của Giáo Hội, là một trong những định nghĩa nổi bật nhất về chức phận Giáo Hoàng, và phải có trong một vài ý thức về một bản chất thứ hai của mỗi Giáo hoàng: “Trung thành tôn trọng những truyền thống nhận được từ khởi đầu của đức tin Kitô giáo “(Công đồng Vatican I, IBD.).

Chúng ta phải luôn luôn cầu nguyện để Thiên Chúa ban cho Giáo Hội của Người những Giáo Hoàng có tư tưởng truyền thống. Tuy nhiên, chúng ta phải tin vào những lời này: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt” (Tông Đồ Công Vụ 1: 7).

Rorate Caeli: Chúng con biết có rất nhiều giám mục và hồng y – có thể là đa số – những người muốn thay đổi ngôn ngữ học thuyết của Giáo Hội và kỷ cương lâu đời, dưới cái cớ “phát triển học thuyết” và “từ bi mục vụ”. Chuyện gì sai trái trong tranh luận của các ngài?

ĐGM Schneider: Lối cắt nghĩa như “phát triển học thuyết” và “từ bi mục vụ” trong thực tế thường là một cái cớ để thay đổi giáo huấn của Đức Kitô, và chống lại ý nghĩa lâu đời và sự toàn vẹn, như các tông đồ đã truyền cho toàn thể Giáo Hội, và nó đã được trung thành lưu giữ thông qua các Giáo Phụ của Giáo Hội, những lời dạy giáo điều của Công đồng Đại kết và của các Giáo hoàng.

Cuối cùng, những giáo sĩ muốn một Giáo Hội khác, và thậm chí một tôn giáo khác: Một tôn giáo tự nhiên, vốn bị sửa đổi theo tinh thần của thời đại. Giáo sĩ như vậy thực sự là sói đội lốt chiên, thường tán tỉnh thế giới. Không phải là mục tử dũng cảm – mà là những con thỏ hèn nhát.

Vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội

Rorate Caeli: Chúng con nghe rất nhiều về vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội ngày nay – cái được gọi là “tài năng nữ giới”. Phụ nữ rõ ràng đã đóng một vai trò quan trọng trong Giáo Hội ngay từ ban đầu, bắt đầu với Đức Trinh Nữ Maria. Nhưng theo phụng vụ, Đức Kitô đã định rõ thái độ của Người, như là có những giáo hoàng trước công đồng. Đức Cha có tin chuyện người nữ tham gia trong phụng vụ, đúng chăng việc phụ nữ tham gia trong Thánh Lễ Novus Ordo hay bé gái giúp lễ, đã đóng một vai trò tích cực hoặc tiêu cực trong Giáo Hội trong bốn thập niên qua?

ĐGM Schneider: Không còn nghi ngờ gì về thực tế là phụ nữ tham gia vào các công tác phụng vụ tại bàn thờ (đọc các bài giảng, phục vụ tại bàn thờ, phân phối Thánh Thể) đang tượng trưng cho một căn nguyên đoạn tuyệt với truyền thống mang tính trọn vẹn và phổ quát của Giáo Hội. Theo đó, một thực tế như vậy là chống lại truyền thống tông đồ.

Một thực tế như vậy đã trao cho phụng vụ Thánh Lễ một dáng dấp Tin Lành rõ ràng và một đặc trưng của một buổi cầu nguyện chính thức hoặc của một sự kiện giáo lý. Điều này thực tế chắc chắn là trái với ý định của các Nghị phụ Công đồng Vatican II và chẳng có một dấu hiệu nào cho nó trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh.

Thánh Lễ Latin Truyền Thống

Rorate Caeli: Đức Cha nổi tiếng là cử hành Thánh Lễ Latin truyền thống ở nhiều nơi trên thế giới. Cha đã tìm được những bài học sâu sắc nhất nào qua việc học hỏi Thánh Lễ La Tinh, với tư cách một linh mục và với tư cách giám mục, các linh mục và giám mục khác có thể hy vọng sẽ đạt được bằng cách đích thân cử hành Thánh lễ truyền thống?

ĐGM Schneider: Những bài học sâu sắc nhất tôi học được từ việc cử hành nghi thức truyền thống của Thánh Lễ là thế này: Tôi chỉ là một công cụ nghèo nàn của một hành động siêu nhiên và hết sức thiêng liêng, mà chủ tế chính là Chúa Kitô, Vị Chủ tế Vĩnh Hằng Cao Cả. Tôi cảm thấy rằng trong khi cử hành Thánh Lễ tôi đã đánh mất tự do cá nhân của tôi theo nghĩa nào đó, vì những lời nói và cử chỉ được quy định ngay cả trong các chi tiết nhỏ nhất của chúng, và tôi không thể vứt bỏ chúng. Tôi cảm nhận sâu sắc nhất trong lòng tôi, tôi chỉ là một người đầy tớ và là một thừa tác viên nhưng tuy nhiên với ý chí tự do, với niềm tin và tình yêu, thực hiện không theo ý tôi, nhưng làm theo ý của Đấng khác.

Truyền thống và nghi lễ hơn ngàn năm tuổi của Thánh Lễ, mà thậm chí Công đồng Trent đã không thay đổi, bởi vì thứ tự của Thánh Lễ trước và sau Công đồng đó hầu như giống hệt nhau, tuyên bố và mạnh mẽ phúc âm hóa Nhập Thể và Sự Giáng thế của Thiên Chúa vô hạn và thánh thiện không thể tả, Đấng trong phụng vụ là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, là “Emmanuel”, trở nên quá nhỏ bé và rất gần gũi với chúng ta. Nghi thức truyền thống của Thánh Lễ là một tuyên bố Tin Mừng mạnh mẽ đầy nghệ thuật và, cùng một lúc, thực hiện công trình cứu độ chúng ta.

Rorate Caeli: Nếu Giáo hoàng Benedict đã đúng khi nói rằng Nghi Lễ Rôma hiện tại (nếu có thể nói là lạ lẫm), tồn tại trong hai hình thức chứ không phải là một, tại sao nó chưa từng xảy ra rằng tất cả các chủng sinh đều được yêu cầu phải nghiên cứu và tìm hiểu Thánh Lễ Latin truyền thống, như là một phần của đào tạo chủng viện của họ? Làm thế nào một linh mục giáo xứ của Giáo Hội La Mã lại có thể không biết cả hai hình thức của một nghi thức của Giáo Hội? Và làm thế nào quá nhiều người Công giáo có thể vẫn bị từ chối Thánh Lễ và các bí tích truyền thống nếu nó có một hình thức ngang nhau?

ĐGM Schneider: Theo ý định của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, và các chỉ tiêu rõ ràng của Giáo Huấn “Universae Ecclesiae”, tất cả các chủng sinh Công giáo phải biết hình thức truyền thống của Thánh Lễ và có thể cử hành nó. Cùng một tài liệu nói rằng hình thức này của Thánh Lễ là một kho báu cho toàn thể Giáo Hội – do đó nó dành cho tất cả các tín hữu.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khẩn cấp kêu gọi tất cả các giám mục phải quảng đại giúp đỡ nguyện vọng của các tín hữu về việc cử hành hình thức truyền thống của Thánh Lễ. Khi các giáo sĩ và giám mục gây cản trở hoặc hạn chế việc cử hành Thánh lễ truyền thống, họ đang bất tuân những gì Chúa Thánh Thần đang nói với Giáo Hội, và họ đang hành động theo một cách chống đối mục vụ một cách thậm tệ. Họ cư xử như những người sở hữu kho báu của phụng vụ, vốn không thuộc về họ, vì họ chỉ là các quản trị viên.

Trong việc phủ nhận việc cử hành Thánh Lễ truyền thống hoặc cản trở và đối xử một cách kỳ thị chống lại nó, họ cư xử như một quản trị viên bất trung và thất thường – trái với các hướng dẫn của nhà cha – giữ thức ăn trong tủ có khoá hoặc như một người mẹ mưu kế độc ác đang cho con cái miếng ăn còm cỏi. Có lẽ giáo sĩ như vậy sợ sức mạnh lớn lao của chân lý chiếu tỏa từ việc cử hành Thánh Lễ truyền thống. Người ta có thể so sánh Thánh Lễ truyền thống với một con sư tử. Hãy để nó tự do, và nó sẽ tự bảo vệ mình.

Nước Nga rõ ràng chưa được dâng hiến

Rorate Caeli: Có nhiều người Nga theo Chính Thống, nơi Đức Cha đang sống. Alexander của Astana hoặc bất cứ ai khác ở Giáo Hội Chính Thống Nga (Moscow Patriarchate) có từng hỏi Đức Cha về Thượng Hội Đồng gần đây hoặc về những gì đang xảy ra cho Giáo Hội dưới  thời đức Francis? Họ thậm chí có còn quan tâm đến điểm này không?

Schneider: Những giám mục theo Chính thống, người mà tôi có liên lạc, nói chung là không có thông tin về các tranh chấp hiện tại nội bộ trong Giáo Hội Công Giáo, hoặc ít nhất là họ chưa từng nói với tôi về những vấn đề như vậy. Mặc dù họ không nhận ra tính ưu việt về thẩm quyền của Giáo hoàng, họ vẫn xem Đức Giáo Hoàng như là chức phận hàng đầu trong Giáo Hội, từ quan điểm ngoại giao.

Rorate Caeli: Chúng ta chỉ còn một năm nữa là kỷ niệm lần thứ 100 biến cố Fatima. Nga được cho là không được dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria và chắc chắn không được hoán cải. Giáo Hội, trong khi chưa có tì vết, đang trong tình trạng hỗn loạn hoàn toàn – có thể tồi tệ hơn trong thời dị giáo Arian. Mọi thứ sẽ thậm chí tồi tệ hơn trước khi chúng trở nên tốt hơn và người Công giáo thực sự trung thành nên chuẩn bị thế nào cho những gì sắp tới?

ĐGM Schneider: Chúng ta phải tin tưởng vững chắc: Giáo Hội không phải là của chúng ta, cũng không phải của Đức Giáo Hoàng. Giáo Hội là của Chúa Kitô và Ngài một mình nắm giữ và dẫn dắt Giáo Hội vĩnh viễn thậm chí qua các giai đoạn đen tối nhất của cuộc khủng hoảng, như tình hình thực sự hiện tại của chúng ta.

Đây là một minh họa về đặc tính Thánh thiên của Giáo Hội. Giáo Hội về cơ bản là một bí ẩn, một bí ẩn siêu nhiên, và chúng ta không thể tiếp cận Giáo Hội như khi chúng ta tiếp cận một đảng chính trị hoặc xã hội con người thuần túy. Đồng thời, Giáo Hội là con người và trên cấp độ con người Giáo Hội ngày nay đang chịu khổ nạn buồn thảm, đang chung phần vào cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô.

Người ta có thể nghĩ rằng Giáo Hội trong thời đại chúng ta đang bị roi đòn như Chúa chúng ta, đang bị lột trần như Chúa chúng ta, đang ở chặng đàng thánh giá thứ Mười. Giáo Hội, Mẹ của chúng ta, đang bị trói không chỉ bởi những kẻ thù của Chúa Kitô mà còn bởi một số cộng tác viên của họ trong hàng ngũ giáo sĩ, thậm chí đôi khi là giáo sĩ cấp cao.

Tất cả con ngoan của Giáo Hội Mẹ như những người lính dũng cảm, chúng ta phải cố gắng để giải phóng người mẹ này – với những vũ khí tinh thần là bảo vệ và rao giảng sự thật, thúc đẩy sự phụng vụ truyền thống, chầu Thánh Thể, chiến dịch Kinh Mân Côi, chiến đấu chống lại tội lỗi trong cuộc sống riêng tư và phấn đấu thánh thiện.

Chúng ta phải cầu nguyện để Đức Giáo Hoàng có thể một cách rõ ràng sớm dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria, sau đó Mẹ sẽ giành chiến thắng, như Giáo Hội cầu nguyện từ thời xưa: “Mừng vui lên ôi Trinh Nữ Maria, vì một mình Mẹ đã phá hủy mọi dị giáo trên toàn thế giới “(Gaude, Maria Virgo, cunctas haereses sola interemisti trong Universo mundo).

TC chuyển dịch từ: http://www.rorate-caeli.blogspot.com/2016/02/exclusive-bishop-athanasius-schneider.html?m=1

Nếu quý vị nhận được bài viết này qua email và muốn đọc thêm những bài khác xin ghé vào trang thoisuthoicuoi.com để đọc.

Để bảo đảm tính xác thực của bài viết, yêu cầu những trang mạng đăng tải những bài viết của trang Thời Sự Thời Cuối phải trích rõ nguồn gốc.