Thấy gì từ AMORIS LAETITIA – Niềm Vui của Tình Yêu?

Sau bao chờ đợi ngóng trông, cuối cùng thì một tông huấn có cái tên rất lãng mạn là NIỀM VUI CỦA TÌNH YÊU cũng đã được ra đời. Tông Huấn (TH) này là kết quả từ sự gợi hứng của hai Synod về gia đình năm 2014 và 2015. Tông Huấn đưa ra lời mời gọi, hãy đọc cách kiên nhẫn và cẩn thận hầu có thể thu được lợi ích lớn nhất (#7). Đáp lại lời dạy đó, người viết đã say sưa đọc trọn vẹn AMORIS LAETITIA một lượt từ đầu đến cuối. Sau khi đọc xong, người viết xin mạo muội ghi lại một vài cảm nhận như sau:

 

  1. “Bán cái” cho các GH địa phương?

Ngay ở số 3 trong phần dẫn nhập, TH đã khẳng định rõ ràng quan điểm rằng: “không phải tất cả những cuộc thảo luận về các vấn đề tín lý, luân lý, và mục vụ đều cần được giải quyết bằng những can thiệp của huấn quyền. Sự thống nhất của giáo huấn và thực hành là cần thiết trong GH, nhưng điều đó cũng không loại trừ một vài cách thế khác nhau trong việc giải thích các khía cạnh của giáo huấn ấy hoặc rút tỉa các kết quả từ đó.” Từ quan điểm ấy, TH đã công khai trao quyền cho các GH địa phương bằng những lời sau: “Mỗi quốc gia hay khu vực, có thể tìm kiếm các giải pháp phù hơn đối với văn hoá của mình, và nhạy cảm đối với những truyền thống và nhu cầu của địa phương mình. Mà thực tế thì các nền văn hoá luôn phong phú, nên mọi nguyên tắc chung nếu muốn được tôn trọng và áp dụng, cần phải được hội nhập.” (#3)

Việc giao trách nhiệm cho các giáo hội địa phương, phải tự hoạch định hướng đi mục vụ, tiếp tục tái được khẳng định ở số 199 như sau: “Các cộng đồng khác nhau phải đề ra những sáng kiến mục vụ thực tế và hiệu quả phù hợp với giáo huấn của GH cũng như với những vấn đề và nhu cầu của địa phương.

Như vậy, linh cảm của người viết như đã nói trong phần kết luận của bài 20 đã trở thành sự thật. Viễn cảnh giáo huấn một đàng, hành động một nẻo, nơi này tin và thực hành thế này, nơi kia tin và thực hành thế khác, không còn là điều xa xôi nữa những đã trở thành khả thể trước mắt. TH không chỉ “bán cái” cho các GH địa phương, mà còn minh nhiên cho phép dùng các cách thế khác nhau để giải thích giáo huấn ấy cũng như rút tỉa các kết quả từ đó!

  1. Giáo Hội có lỗi?

Nói về những vấn đề khủng hoảng của gia đình trong hiện tại, TH chỉ ra rằng, chính cách trình bày đức tin và cách đối xử của chúng ta đối với người khác đã góp phần tạo ra tình cảnh nan giải hôm nay! Đến đây, TH đổi cách xưng hô từ “tôi” thành“chúng ta”, tức là bao gồm hết thảy từ giáo hoàng, giám mục, linh mục cho đến giáo dân. Sử dụng đại từ “chúng ta” ở đây là hàm ý ám chỉ Giáo Hội? Chúng ta cần một liều tự phê bình! Vậy chúng ta hay GH đã làm gì có lỗi trong việc tạo ra tình cảnh nan giải của gia đình hôm nay?

–       Chúng ta đã trình bày về hôn nhân theo một cách thức chỉ biết nhấn mạnh đến bổn phận truyền sinh, làm cho nó lấn lướt hết cả các ý nghĩa khác như, sự hợp nhất của hôn nhân, tiếng gọi tăng trưởng trong tình yêu của hôn nhân, và sự trợ giúp hỗ tương trong hôn nhân. (#36).

–       Chúng ta đã trình bày một lý tưởng thần học quá trừu tượng và giả tạo về hôn nhân, tách biệt hoàn toàn khỏi những hoàn cảnh cụ thể và khả năng thực tế của các gia đình. Chính sự lý tưởng hoá thái quá này, và đặc biệt là khi chúng ta đã không thúc đẩy sự tín thác nơi ân sủng của Thiên Chúa, đã không làm cho hôn nhân trở nên hấp dẫn và đáng muốn hơn, nhưng hoàn toàn ngược lại. (#36).

–       Chúng ta từ lâu chỉ biết nhấn mạnh đến các vấn đề tín lý, đạo đức sinh học, và luân lý, mà không khích lệ sự mở ra cho ân sủng. (#37).

–       Chúng ta đã trình bày hôn nhân như một gánh nặng cả đời chứ không muốn trình bày nó như một nẻo đường năng động dẫn đến sự phát triển và hoàn thiện bản thân. (#37).

–       Chúng ta không chịu dành chỗ cho lương tâm của các tín hữu, những người thường đáp ứng tốt nhất có thể đối với Tin Mừng trong những giới hạn của họ, và có khả năng thực hiện việc tự biện phân trong những hoàn cảnh phức tạp. (#37).

Đó là những nhận định có tính biện phân, bắt bệnh mà TH đưa ra. Những nhận định này mang tính phê bình hiển nhiên và dường như chỉ dựa trên kinh nghiệm cá nhân chủ quan mà thôi, bởi TH đã không đưa ra một trích dẫn hay dữ kiện nào minh chứng cho những quan điểm trên. Vậy tại sao TH lại lôi cả người khác vào bằng lối xưng hô “chúng ta” nhỉ? Chúng ta (GH) có thực sự mắc lỗi lẫm như trên hay không? Những “lỗi lầm” trên có thực sự góp phần tạo ra sự khủng hoảng gia đình hôm nay?

  1. Rước lễ cho các cặp chung sống ngoài hôn nhân?

TH dùng cụm từ “những kết hợp không bình thường – irregular unions” để áp dụng cho các cặp vợ chồng dối, tức những cặp chung sống không hôn thú hay phép đạo gì cả. Những người đã ly dị và tái hôn, đương nhiên cũng được gộp chung vào hạng “irregular unions” này. TH đưa ra những lời như muốn bào chữa biện minh cho những người sống trong tình trạng không bình thường này là do thiếu hiểu biết luật lệ, hoặc hiểu mà không hiểu đến nơi đến chốn, hoặc gặp khó khăn không thể hành động theo cách nào khác hơn… Rồi TH kết luận: “không thể nào cho rằng, tất cả những ai trong hoàn cảnh “không bình thường” đều là sống trong tình trạng tội nặng – mortal sin – và bị tước mất ơn thánh hoá.” (#301).

Vâng, với việc khẳng định, những người chung sống không hôn thú chưa hẳn đã là ở trong tình trạng tội nặng, như vậy thì họ có thể hoàn toàn được rước lễ. Bởi vì, theo kỷ luật hiện hành, tội nặng là rào cản cho việc rước lễ. (x. GL .915).

TH dạy tiếp, trong khi thực hiện việc biện phân, “một mục tử không bao giờ được cảm thấy đủ khi chỉ biết đơn giản là áp dụng các nguyên tắc luân lý cho những người sống trong những hoàn cảnh “không bình thường”, như thể chúng là viên đá ném vào họDo bởi những điều kiện và các yếu tố giảm nhẹ, đôi khi trong một tình trạng tội khách quan, một người vẫn có thể sống trong ân sủng của Thiên Chúa, vẫn có thể tăng trưởng trong đời sống của ân sủng và bác ái, khi nhận được sự trợ giúp của Giáo Hội.” (#305)

Sự trợ giúp của GH ở đây là gì? Chú thích số 351 giải thích rõ, đó là sự trợ giúp của các bí tích: Giải Tội và Thánh Thể.  TH khẳng định: “Thánh Thể không phải là phần thưởng cho người trọn lành, nhưng là phương dược và của nuôi cho kẻ ốm yếu.”

Qua một vài trích dẫn tiêu biểu trên đây ta thấy, cơ hội rước lễ cho những người đã ly dị và tái hôn, cũng như tất cả những người sống chung không phép đạo, đã chính thức được mở ra. Điều này đã làm ứng nghiệm tư tưởng và lòng mong đợi của HY. Walter Kasper. Vì thế, ngài đã tỏ ra hoan hỷ loan tin từ hôm 16/3/2016 tại Lucca, Ý, rằng: Trong Tông Huấn sắp tới, Giáo Hoàng sẽ lên tiếng dứt khoát về các chủ đề liên quan đến gia đình đã được bàn thảo trong hai kỳ Synod năm 2014 và 2015, và đặc biệt là việc tham dự của những người đã ly dị và tái hôn vào trong đời sống của Giáo Hội. Đây là bước đầu tiên của công cuộc cải cách, sẽ lật sang một trang mới trong lịch sử Giáo Hội sau 17 thế kỷ. Chúng ta không được lặp lại những công thức của quá khứ cũng như tự giam hãm chúng ta sau bức tường của sự độc đoán và chủ nghĩa giáo sỹ!  (http://www.ncregister.com/blog/edward-pentin/cardinal-kasper-exhortation-could-be-published-saturday).

  1. Các kết hợp đồng tính?

TH lần đầu tiên đề cập đến các kết hợp đồng giới ở số 52: “…các kết hợp đồng giới không được coi ngang hàng với hôn nhân. Một sự kết hợp tạm thời hay đóng kín đối với việc truyền sinh không thể bảo đảm cho tương lai của xã hội.”

Ở số 251, TH đưa ra quan điểm mạnh mẽ và rõ ràng hơn đối với các kết hợp đồng giới: “Tuyệt đối không có cơ sở nào để coi các kết hợp đồng giới là tương tự hoặc thậm chí loại suy giống với ý định của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình.”

TH truyền dạy phải tôn trọng mọi người, tránh mọi biểu hiện của sự kỳ thị bất công, bất luận khuynh hướng tình dục của họ là gì (#250). Vì sự “tế nhị” đó mà không chỗ nào TH dám nói rằng, các kết hợp đồng giới là tội lỗi và hỗn loạn tự bản chất (instrinsically evil and disordered) như giáo huấn từ trước đến nay vẫn truyền dạy.

  1. Vấn đề ngừa thai?

Vấn đề ngừa thai và tính luân lý của nó không trực tiếp được đề cập đến. Quan điểm về ngừa thai có thể được hiểu cách gián tiếp khi TH nói về ý nghĩa của hành vi phối ngẫu (conjugal act) và việc truyền sinh (tranmission of life). TH cho rằng, khi con người tách biệt mục đích sinh sản ra khỏi mối quan hệ tình dục giữa một người nam và một người nữ, sự sống con người và tư cách làm cha mẹ sẽ trở thành như hình khối và những thực thể rời rạc, hoàn toàn tuỳ thuộc vào ý muốn của các cá nhân hay các cặp vợ chồng. Chúng ta không được sa vào cái tội muốn thay thế Tạo Hoá. Chúng ta là thụ tạo chứ không phải là toàn năng. Tạo dựng vượt trên chúng ta nên phải được đón nhận như một quà tặng. (#56).

Đoạn sau, TH nói rõ hơn rằng: “mối liên hệ phối ngẫu, tự bản chất, được hướng đến việc truyền sinh…ngay từ đầu, tình yêu loại trừ mọi toan tính để khép lại trong chính nó; nó mở ra một sự phong phú và vượt trên chính nó. Do vậy, hành vi tình dục vợ chồng không thể chối bỏ ý nghĩa này, ngay cả khi vì những lý do khác nhau nó không luôn luôn phát sinh một sự sống mới.” (#80).

Như vậy ta thấy, TH chỉ nói vắn tắt rằng, tự bản chất, hành vi phối ngẫu hướng đến việc truyền sinh và vì thế, không được tách biệt mục đích truyền sinh khỏi hành vi phối ngẫu (tức ngừa thai). Nếu con người cứ tách biệt thì sao? TH không đưa ra câu trả lời cụ thể về tính luân lý của việc ngừa thai. Có lẽ là vì từ hồi tháng 2, người đứng đầu Giáo Hội đã tuyên bố:Ngừa thai không luôn luôn là xấu! (coi lại bài 23). Việc ngừa thai kể như đã được giải quyết nên không cần thiết phải trực tiếp nhắc đến ở đây nữa?

Ngoài ra, TH cũng nói qua cách rất vắn tắt về hai vấn đề là phá thai và an tử (Abortion & Eutanasia). Hai vấn đề này được nhắc đến ở số 83. TH nói về quyền được sống bất khả xâm phạm của hài nhi vô tội. Không một lý do nào có thể biện minh cho việc tước bỏ sự sống của thai nhi trong lòng mẹ. Phải bảo vệ sự sống trong mọi giai đoạn cho đến cái chết tự nhiên. TH cũng phản đối án tử hình.

Không có gì mang tính “đột phá” khi động chạm đến hai vấn đề phá thai và an tử, ngoại trừ cách diễn tả có phần tế nhị nhẹ nhàng chứ không dứt khoát mạnh mẽ như vốn có.

Kết luận:    

Vậy là linh cảm về một cuộc phân ly có tổ chức trong GH mà người viết đã nói trong phần kết của bài 20 đã thực trở thành hiện thực.  AMORIS LAETITIA đã khước từ đưa ra những chỉ dẫn mục vụ cụ thể liên quan đến hôn nhân gia đình. Trái lại, TH đã trao toàn quyền cho các giáo hội ở các quốc gia hay vùng miền, hoạch định các giải pháp mục vụ sao cho phù hợp với văn hoá địa phương mình. Đức tin và việc thực hành đức tin rồi đây sẽ khác nhau tuỳ theo vùng, miền, khu vực, và quốc gia.

Việc rước lễ đối với những người chung sống không phép đạo cũng đã chính thức được mở ra. Việc khẳng định rằng, không phải tất cả những người sống chung không phép đạo, đều là sống trong tình trạng tội nặng, TH đã mở ra con đường thênh thang cho họ đến với Thánh Thể. Khi thực hiện điều này, không phải chỉ có đức tin và kỷ luật của GH bị tấn công, nhưng chính chính Bí Tích Cực Thánh và Chúa Giêsu Thánh Thể mới là mục tiêu chính bị nhắm đến.

Một điều lạ lùng nữa là, không một chỗ nào trong TH dài 60100 từ này nói đến tội lỗi! Không hề có một hành vi hay lối sống nào bị TH chỉ đích danh là tội lỗi, là xấu xa, là hỗn loạn, là sai lầm…hoặc khẳng định mạnh hơn như xấu xa tự bản chất, sai lầm tự bản chất …lại càng không thấy đâu! Thật vậy, ngay cả khi đề cập đến các việc như chung sống không phép đạo, các kết hợp đồng giới, việc ngừa thai, phá thai, an tử…không một lần nào TH công khai nhìn nhận các sự việc và hành vi này là xấu xa, là tội lỗi, là hỗn loạn hay sai lầm tự bản chất! Tắt một lời, theo TH này, dường như không còn có cái gì bị coi là xấu xa, tội lỗi nữa!? Do vậy, TH này thật xứng đáng với tên gọi của nó: NIỀM VUI CỦA TÌNH YÊU. Nói về niềm vui của tình yêu mà lại có cái gì đó là tội lỗi và xấu xa thì thật là không phải!

Đó là hệ quả của một thứ ngôn ngữ “thời thượng” mà GH ngày nay đang khuyến khích sử dụng, thứ ngôn ngữ bao hàm – inclusive language. Thứ ngôn ngữ này có đặc tính là trung dung, tế nhị, không loại loại trừ ai, không làm tổn thương ai. Thứ ngôn ngữ này tất yếu dẫn đến việc diễn tả chân lý cách nửa vời, bởi phải né tránh không dám gọi tên các sự việc theo đúng bản chất của nó. Khi chân lý bị diễn tả cách hời hợt nửa vời, chính là lúc cánh cửa dẫn đến lầm lạc được mở ra.

Chữ “biện phân – discernment” xuất hiện 30 lần trong TH, đủ cho thấy vai trò của nó quan trọng thế nào đối với các mục tử ngày nay. Tuy nhiên, TH đem lại cảm nhận rằng, việc biện phân sẽ trở nên vô nghĩa nếu nó không giúp người mục tử đi đến chỗ chấp nhận và đồng hành với những người sống trong “những kết hợp không bình thường”! Phải giúp họ bằng mọi cách để họ được đón nhận vào trong đời sống GH. Kể cả khi họ không chịu thay đổi thì cứ lạc quan trợ giúp họ bằng ân sủng của Bí Tích Giải Tội và Thánh Thể.   Bởi vì BTGT là nơi họ gặp gỡ tình thương của Chúa, và Thánh Thể là lương thực cho người ốm yếu chứ không phải phần thưởng cho người trọn lành (#305).  Cứ quảng đại với họ, rồi họ sẽ thay đổi dần dần!

Khi đọc TH này, có cảm tưởng rằng đó giống như những lời của một trạng sư biện hộ cho những người sống trong những “kết hợp không bình thường” và các vấn đề liên quan đến đời sống gia đình như phá thai, ngừa thai… Các mục tử rồi đây sẽ cảm thấy như thể bị khoá miệng, đâu dám lên tiếng giảng dạy gì nữa. Bởi vì lên tiếng có thể sẽ rơi vào các “sai lầm” vừa nói ở trên (#36-37). Nếu dựa vào luật lệ có sẵn của GH, thì có khác gì như thể “ném đá vào người ta” (#305).  Phải dành chỗ cho lương tâm của người ta chứ! Bởi chính họ cũng biết cách phải đáp trả Tin Mừng và thực hiện việc tự biện phân mà (#37). Nếu đề cao vẻ đẹp hôn nhân, coi chừng rơi vào cái tội lý tưởng hoá và đòi hỏi quá đáng, đòi các gia đình phải đạt tới sự hoàn thiện mà chỉ có thể đạt được ở đời sau. Đừng đòi hỏi gì nhiều, hãy cùng sánh bước bên nhau trên hành trình tiến tới những gì lớn lao hơn chính bản thân và gia đình của chúng ta! (#325). Hãy đón nhận tất cả! Không xét đoán! Hãy cùng nhau tiến bước!

Qua tất cả những gì vừa nói trên, “Thời Giờ Đã Mãn” tiếp tục đi theo tôn chỉ của mình là nhìn các biến cố đang xảy ra như những dấu chỉ, không tranh luận cũng chẳng phê bình chỉ trích. Tất cả những nới lỏng, những đổi mới, những đổi thay trong giáo huấn và thực hành mà TH huấn này khởi xướng, thực sự là những hoa trái của Chúa Thánh Thần hay là những biểu hiện của Apostasy thời cuối?

Xin Chúa chúc lành cho quý vị!

Lạy Mẹ Fatima, xin cầu cho chúng con!

Nguồn: Thời Giờ Đã Mãn