Sự im lặng, không rõ ràng và bất đồng quan điểm của các linh mục và giám mục Công giáo đang hủy hoại gia đình

Ngày 10 tháng 10 năm 2016 (HLI) – Tôi đã đi du lịch đến hơn 60 quốc gia trong gần sáu năm kể từ khi tôi gia nhập gia đình Human Life International. Dựa trên phản hồi của tôi đã nhận được từ vài chục cuộc hội thảo và hàng trăm cuộc nói chuyện ở mức giáo xứ mà tôi đã đưa ra, tôi ước tính rằng khoảng 90% người ta chưa bao giờ nghe một bài giảng về tội ác của một việc tránh thai – ít nhiều về tác động gây sẩy thai từ việc đó và không biết gì về các tội phá thai đầy bạo lực.

Chuyến đi gần đây của tôi tới Ireland chỉ củng cố thêm thực tế này. Gần như mọi người mà tôi đã nói chuyện với họ trong các hội thảo của chúng tôi đều nói với tôi rằng họ không bao giờ nghe về các đề tài ấy từ các giám mục và linh mục của mình. Chúng tôi hiếm khi hoặc không nhận được sự hướng dẫn nào, và họ tự hỏi tại sao gia đình bị tan vỡ và trẻ em đang đánh mất niềm tin.

Tôi tin rằng mối đe dọa chính ảnh hưởng đến tổ chức thiêng liêng của hôn nhân thánh và làm xói mòn lòng tôn trọng sự sống con người đó là tội ác ngừa thai và tâm lý đeo bám từ sau từ việc chấp nhận nó. Ngừa thai là một cuộc tấn công trực tiếp vào chương trình của Chúa về cuộc sống hôn nhân. Đây là một căn bệnh hiểm ác!

Ngừa thai loại bỏ phẩm giá tính dục con người và vai trò thích hợp của nó trong đời sống hôn nhân. Sự im lặng hoặc không rõ ràng từ những vị được giao phó dạy dỗ các tín hữu – đồng hành với họ trên con đường hẹp – là một hành động bỏ bê đầy tai tiếng và sự thờ ơ đối với dân Chúa. Tệ hơn nữa là những người bất đồng chính kiến thông qua mục đích đánh lừa các tín hữu vào việc tin rằng ngừa thai là một lựa chọn khả thi.

Chúa Giêsu dạy chúng ta phải xét đoán mọi thứ qua kết quả của chúng. Chúng ta thấy gì? Một đánh giá trung thực về bất kỳ một dân tộc nào từng ôm lấy việc ngừa thai thường không thể tránh khỏi những hậu quả không thể phủ nhận – tỷ lệ sinh sản thấp và cuộc sống gia đình kém lành mạnh. Chúng ta có phá thai, ly dị, hôn nhân đồng tính hợp pháp, sống chung chạ như vợ chồng, gia đình tan vỡ, và các chương trình giáo dục quan hệ tình dục đồi bại dành cho trẻ em, lạm dụng trẻ em, buôn bán tình dục, khiêu dâm, khiếm nhã, và sống buông thả bừa bãi. Cha Paul Marx gọi đây là một “mớ hỗn độn quan hệ tình dục” lớn lao. Tất nhiên, những điều này đều là những triệu chứng của một vấn đề cốt lõi – bất đồng chính kiến từ sự thật về con người và những món quà tình dục. Căn bệnh quái ác này vốn đang phá hủy gia đình của chúng ta và nó sẽ tiếp tục sự phá hủy của nó cho đến khi chúng ta tiêu diệt được nó.

Một trong những chiến lược quan trọng của HLI đang làm việc với các chủng sinh, linh mục và giám mục nhằm thúc đẩy toàn bộ thông điệp ủng hộ sự sống và hỗ trợ họ trong việc áp dụng nó vào mọi khía cạnh của việc chăm sóc mục vụ. Đáng buồn thay, tôi đã chứng kiến quá thường xuyên sự đứt nối giữa các dịch vụ chăm sóc mục vụ và Tin Mừng. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm đào tạo các nhà lãnh đạo tinh thần của chúng ta đều không hoàn toàn áp dụng giáo huấn Công giáo vào đạo đức tình dục và mối hôn nhân thánh là một bài tập bỏ đi. Người sáng lập của chúng tôi, Cha Paul Marx, khá chua xót nói rằng:

Trong khi chúng ta cần một loạt các nhóm phò sự sống để đánh đuổi con quái vật chống lại sự sống, thì thật là vô cùng vô ích và thực tế hiển nhiên vô ích đầy tính thiển cận để bỏ qua nguồn chủ yếu giết hại trẻ nhỏ, đó là biện pháp tránh thai.

Cách đây không lâu các Kitô hữu trên toàn thế giới đã tổ chức nói chung về vấn đề ngừa thai và vai trò chính của sự thân mật tình dục giữa vợ chồng.

Chúng ta thốt ra một lời cảnh báo dứt khoát chống lại việc sử dụng các phương tiện không tự nhiên cho việc tránh thai, cùng với những mối nguy hiểm nghiêm trọng về thể lý, đạo đức và tôn giáo phát sinh từ đó, và chống lại các tệ nạn mà phần mở rộng việc sử dụng đó đe dọa chủng tộc. Đi ngược lại với sự giảng dạy, vốn núp dưới danh nghĩa của khoa học và tôn giáo để khuyến khích những người kết hôn xem tình dục là mục đích và là cùng đích của hôn nhân. Chúng ta kiên quyết duy trì những gì luôn luôn phải được coi là những cân nhắc mang tính định hướng cho hôn nhân Kitô giáo. Điều chính yếu này là mục đích chính để cuộc hôn nhân có thể tồn tại – đó là sự duy trì nòi giống thông qua tặng ân và di sản con cái; điều khác đó là tầm quan trọng hết sức về sự thận trọng và tự kiềm chế đầy ý thức trong đời sống hôn nhân. Chúng ta mong muốn long trọng tuyên dương những gì chúng ta đã nói với những người Kitô giáo và tất cả những ai sẽ nghe thấy. (Anglican Communion, Hội nghị Lambeth, 1920)

Tuy nhiên, ngay cả khi sự thật về hôn nhân và sự cởi mở của nó đối với cuộc sống đã được công bố, chúng ta đã thực sự bắt đầu thấy sự gia tăng các mối đe dọa. Năm 1916, bốn năm sau khi Hội nghị London lần đầu tiên về thuyết ưu sinh, Margaret Sanger đã thành lập Liên đoàn Kiểm soát Sinh sản – Birth Control League, mà sau này đã trở thành Planned Parenthood. Năm 1921, Marie Stopes thành lập các phòng khám thai đầu tiên ở Anh. Cả hai người phụ nữ này là những ảnh hưởng chính đằng sau đám cưới của thuyết ưu sinh và sự phát triển của công nghệ tránh thai, vốn chắc chắn phát triển thành phong trào kiểm soát dân số – một phong trào, trái với những gì nhiều người đã biết, tiếp tục cuộc tấn công của nó trên những người yếu thế và thiệt thòi cho đến ngày nay.

Vào thời điểm năm 1930 Hội nghị Lambeth của Cộng đồng Anh giáo, nền văn hóa này đã ăn rễ sâu với sự bất đồng chính kiến và coi thường mục đích của hôn nhân và tình dục của con người. Hội nghị bác bỏ thần học Kinh Thánh của riêng mình về hôn nhân và xây dựng một giảng dạy “mới” cho phép việc sử dụng các biện pháp tránh thai cho các cặp vợ chồng. Mặc dù quyết định 15 đã cố gắng duy trì giáo huấn của năm 1920 bằng cách nói rằng phương pháp chính yếu và rõ ràng của việc hạn chế hoặc tránh làm cha mẹ là biện pháp kiêng cữ các hành vi vợ chồng, người ta cho phép các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai.

Chúng ta biết kết quả ra sao.

Đức Giáo Hoàng Piô XI vào ngày 31 tháng 12 năm 1930 đã thực hiện sự phản hồi của Giáo hội Công giáo đối với mối đe dọa trắng trợn này đồng thời làm nổi bật những giáo huấn có hàng thế kỷ của Kitô giáo:

Không một lý do nào, cho dù là nghiêm trọng đến mấy, mà người ta có thể đưa ra với bản chất là đi ngược lại với tự nhiên mà có thể trở nên phù hợp với tính chất và sự tốt lành về đạo đức được. Vì vậy, hành vi vợ chồng được định sẳn chủ yếu bởi tính tự nhiên cho việc sinh sản con cái, những ai cố tình làm mất đi năng lực tự nhiên và mục đích của nó là phạm tội chống lại tự nhiên và phạm phải một hành động đáng xấu hổ và tự bản chất là xấu xa. (Casti Connubii, n. 54)

Do đó, một cách công khai từ giã truyền thống lâu bền của Kitô giáo, một số người gần đây đã lên án truyền thống này và lập ra các học thuyết khác liên quan đến câu hỏi này là liệu Giáo Hội Công Giáo mà Thiên Chúa đã giao phó việc bảo vệ sự toàn vẹn và độ tinh tuyền về mặt đạo đức, liệu còn đứng vững giữa sự tình trạng đạo đức suy tàn vốn đang vây quanh, để Giáo hội có thể giữ gìn sự trinh trắng trong mối hôn nhân của mình với Chúa Kitô cho khỏi bị ô uế bởi vết ô nhơ này, nàng cất tiếng nói của mình với danh nghĩa là Vị Đại Sứ thần thánh thiêng và qua miệng của chúng ta một lần nữa tuyên bố: bất kỳ sử dụng phương thế gì trong quan hệ vợ chồng vốn cố tình chống lại năng lực tự nhiên của hôn nhân là tạo ra sự sống đều là một hành vi phạm tội chống lại lề luật của Thiên Chúa và của tự nhiên, và những ai sống trong tình trạng ấy đều là người mắc tội trọng. (N. 56)

Trở thành “một xương một thịt” ngụ ý tự trao ban, không có sự ưu tiên hoặc ngoại lệ, như Đức Kitô đã không giữ lại gì của chính mình nhưng trao ban cho nàng dâu của Người là Giáo Hội, bằng cách chết treo trên thập tự giá. Bất kỳ sự gián đoạn có chủ ý nào đối với bản chất sinh sản của vợ chồng trong chuyện chăn gối đều liên quan đến việc vợ chồng ích kỷ giữ lại cho bản thân chứ không trao cho người kia hay Thiên Chúa, Đấng cộng sự của họ trong tình yêu thánh hiến. Như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã giải thích, “Giáo Hội … dạy rằng mỗi và mọi hành động hôn nhân phải cần thiết giữ được mối quan hệ nội tại của nó cho việc sản sinh sự sống con người.” (Humane Vitae, n. 12)

Cuối cùng, thẩm quyền giáo huấn được trao cho hội đoàn các giám mục dưới sự dẫn dắt của Đức Giáo Hoàng La Mã, “trung tâm của sự hợp nhất và là đầu của toàn thể Giám Mục,” người kế vị Thánh Phêrô Tông Đồ được giao phó chăm sóc các linh hồn. (Lumen Gentium, n. 22) Khi các Giám Mục dạy về vấn đề đức tin và luân lý trong vai trò tông đồ của các ngài, các ngài nhân danh Chúa Kitô, và các tín hữu, về phần mình, phải chấp nhận sự giảng dạy của các ngài và tuân thủ nó với sự tán thành tôn giáo.

Trong vai trò là giám mục Rôma, Đức Giáo Hoàng, Chân phước Giáo Hoàng Phaolô VI, trong sự thách thức quan điểm phổ biến – thế tục và giáo hội – đã khẳng định việc giảng dạy Giáo Hội trong thông điệp mang tính bước ngoặt của mình, Humane Vitae và đã cảnh báo chúng ta về những gì sẽ xảy ra nếu giáo huấn của Giáo hội liên quan đến các quy định về sinh sản bị bỏ qua. (Xem n. 17)

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cho chúng ta Familiaris Consortio và Evangelium Vitae để nhắc lại giáo huấn của Giáo hội về vấn đề hôn nhân, gia đình và cuộc sống. Ngài đã không hề nản lòng trong vai trò của mình như là Phêrô, người thầy, và người giám hộ học thuyết thiêng liêng. Ngài đã tuyên bố rằng ngừa thai và phá thai là hoa quả của cùng một cây. “Nền văn hóa ủng hộ phá thai một cách mạnh mẽ là một nền văn hóa thực sự từ chối những giáo huấn của Giáo Hội dạy về vấn đề ngừa thai.” (Evangelium Vitae, n. 13)

Thẩm quyền giảng dạy là một ân sủng và trách nhiệm tuyệt vời. Khi được thực hiện với lòng can đảm và sự rõ ràng, nó có thể giải phóng và hiệp nhất mọi người trong sự thật. Khi thực hiện một cách yếu ớt và mơ hồ, nhầm lẫn được tạo ra, thì nó sẽ gây ra thiệt hại to lớn và có khả năng không thể khắc phục được đối với các tín hữu. Điều này càng kéo dài, thì đức tin càng xem ra như là một vấn đề về quan điểm; và khái niệm về chân lý tuyệt đối sẽ bị bỏ rơi.

Cuộc chạy đua tổng thống hiện nay cho thấy một ví dụ khác. Các ứng cử viên tự xưng là Công giáo diễn giải bất đồng quan điểm về vấn đề ngừa thai, phá thai, trợ tử, và đồng tính luyến ái nhưng không ai trong cương vị lãnh đạo gọi chúng là nhiệm vụ hoặc công khai sửa chữa những tuyên bố hoặc vị trí của chúng, do đó, việc trao ra cảm tượng mà họ đang diễn giải được người ta chấp nhận và cho phép.

Nếu chúng ta muốn sửa chữa những thiệt hại và chữa lành căn bệnh ảnh hưởng đến gia đình và xã hội chúng ta, thì chúng ta phải có được quyền gia đình. Hãy đón lấy quyền gia đình và chúng ta có thể đạt tiến bộ thực sự so với các tai họa có liên quan đến việc tránh thai và phá thai, ly dị, trợ tử, và đồng tính luyến ái. Hãy đón lấy quyền gia đình và chúng ta sẽ thấy các xã hội của chúng ta phát triển và sẽ chấn hưng Giáo Hội của chúng ta.

Chúng ta không thể có đủ khả năng để tiếp tục bỏ qua cái căn bệnh chết chóc của biện pháp tránh thai và các hệ quả tồi tệ của nó. Gia đình, con cái của chúng ta, và tương lai của chúng ta đang gặp rủi ro!

TC chuyển dịch từ: https://www.lifesitenews.com/opinion/dissent-is-destroying-the-family