Với nỗi bức xúc: Chúng con buộc tội Đức Giáo Hoàng Francis – Phần II

Một minh oan vô lý cho Hồi giáo

Hãy tưởng tượng xem vai trò của một nhà chú giải kinh Koran để minh oan cho giáo phái của Mohammed từ mối liên quan lịch sử liên tục của nó đến cuộc xâm chiếm và sự đàn áp tàn bạo các Kitô hữu, cha lại tuyên bố: “Đối mặt với sự xáo trộn của chủ nghĩa bạo lực, thì lòng tôn trọng của chúng ta dành cho các tín đồ thực sự của đạo Hồi sẽ khiến chúng ta tránh khỏi những khái quát mang tính hận thù, vì người Hồi giáo đích thực và việc đọc đúng kinh Koran sẽ phản đối mọi hình thức bạo lực”. [Evangelii Gaudium, 253] Cha đã bỏ qua toàn bộ lịch sử của cuộc chiến tranh Hồi giáo chống lại Kitô giáo, vẫn còn đang tiếp tục cho đến ngày nay, cũng như những lề luật hiện hành đầy dã man và sự khủng bố các Kitô hữu ở nước thuộc về Hồi giáo trên thế giới, trong đó có Afghanistan, Iran, Malaysia, Maldives, Mauritania, Nigeria, Pakistan, Qatar, Ả-rập Xê-út, Somalia, Sudan, United Arab Emirates và Yemen. Đây là những chế độ áp bức nội tại của pháp luật Sharia, cái pháp luật mà người Hồi giáo tin rằng Allah đã ban cho toàn thế giới, và họ cố gắng để thiết lập bất cứ nơi nào mà họ chiếm một tỷ lệ dân số đáng kể. Tuy nhiên, cha cũng thiếu hiểu biết về kinh Koran giống như họ, quả thật tất cả những nước thuộc Hồi giáo đều thiếu sự hiểu biết” đích thực” về kinh Koran!

Cha thậm chí cố gắng để giảm thiểu sự khủng bố của Hồi giáo một cách công khai ngay tại Trung Đông, châu Phi và các trung tâm của châu Âu bằng cách dám thừa nhận một sự tương đương về đạo đức giữa tín đồ Hồi giáo tiến hành cuộc thánh chiến – như xưa kia họ từng làm kể từ khi người Hồi giáo lần đầu tiên xuất hiện với điều tưởng tượng về “trào lưu” của một phần người công giáo có tính quan sát mà cha không ngừng công khai lên án và xúc phạm. Trong một cuộc họp báo lan man trên máy bay, trong đó cha quá thường xuyên gây lúng túng cho Giáo Hội và làm suy yếu giáo lý Công giáo, cha thốt ra quan điểm đầy khả ố này, điển hình của sự khăng khăng vô lý của cha là tôn giáo được thành lập bởi Thiên Chúa Nhập Thể và cái giáo phái mãi mãi đầy bạo lực đó được thành lập bởi vị Mohammed đầy hư hỏng kia đều có một vị thế đạo đức ngang nhau:

“Tôi không muốn nói về bạo lực của người Hồi giáo, bởi vì mỗi ngày, khi tôi đọc qua báo chí, tôi thấy bạo lực, ngay tại nước Ý này … một người đã giết chết bạn gái của mình, một người khác đã giết chết người mẹ vợ mình … và những người này đều là Công giáo được rửa tội! Có những người Công giáo bạo lực! Nếu tôi nói về bạo lực Hồi giáo, tôi phải nói về bạo lực Công giáo … Tôi tin rằng trong khá nhiều tôn giáo luôn luôn có một nhóm nhỏ những kẻ cực đoan. Những kẻ cực đoan. Phải, chúng ta cũng có nhóm người này. Khi bàn đến những kẻ cực đoan giết chóc, người ta cũng có thể giết chết nhau bằng lời nói – Thánh Giacôbê Tông Đồ nói như vậy chứ không phải tôi nói – người ta giết nhau không chỉ bằng dao, phải vậy không? Tôi không tin rằng chuyện xác định đạo Hồi qua bạo lực là đúng.

Thật khó tin rằng một ĐGH sẽ tuyên bố rằng những tội ác bạo lực ngẫu nhiên của người Công giáo, và chỉ những lời của họ lại tương đương về mặt đạo đức với chiến dịch rộng khắp thế giới của người Hồi giáo cực đoan về các hành động khủng bố, giết người hàng loạt, tra tấn, nô lệ và hãm hiếp nhân danh của Allah. Có vẻ như cha quá nhanh nhẩu để bảo vệ thứ giáo phái vô lý và đầy chết chóc của Mohammed chống lại những người đối lập hơn là cha đang ở một Giáo Hội thực sự chống lại những kẻ xấu xa tố cáo Giáo hội vô số điều. Xa vời khỏi tâm trí của cha là quan điểm của Giáo Hội lâu đời của người Hồi giáo mà ĐGH Piô XI đã tỏ bày trong việc Thánh hiến nhân loại cho Thánh Tâm: “Lạy Đức Vua của tất cả những kẻ vẫn đang tham gia vào bóng tối của thần tượng hoặc của Hồi giáo, xin đừng từ chối lôi kéo họ vào ánh sáng và nước Thiên Chúa “.

Một nhà cải cách “mơ mộng”, được hỗ trợ bởi một  kẻ chuyên chế

Trên hết, dường như cha bị ảnh hưởng bởi một đam mê cải cách vốn không có giới hạn nào nằm ngoài “giấc mơ” của cha về đường lối Giáo Hội nên có. Như cha đã tuyên bố trong cái tuyên ngôn chưa từng nghe thấy mang đầy tính cá nhân giáo hoàng của cha, Evangelii Gaudium (nn 27, 49.):

Tôi mơ về một “tùy chọn truyền giáo”, đó là một động lực truyền giáo có khả năng chuyển đổi tất cả mọi thứ, để rồi các phong tục của Giáo Hội, cách làm việc, thời gian và lịch trình, ngôn ngữ và cấu trúc có thể được chuyển đổi một cách phù hợp cho việc truyền giáo của thế giới ngày nay hơn là Giáo hội tự gìn giữ…

Còn hơn là sợ mình đi sai đường, tôi hy vọng rằng chúng ta nên sợ sự tiếp tục im lặng trong các cấu trúc vốn cho chúng ta một cảm giác sai lầm về bảo mật, trong các quy tắc khiến chúng ta xét đoán một cách khắc nghiệt, trong những thói quen làm cho chúng ta cảm thấy an toàn, trong khi tại cửa của chúng ta những người đang đói và Chúa Giêsu không ngớt nói với chúng ta: “Hãy cho họ ăn đi” (Mc 6:37).

Quá đủ, cha xưng rằng những “cấu trúc” xưa và “quy tắc” của Hội Thánh Công Giáo đã tàn nhẫn gây đói tinh thần và sự chết chóc trước khi cha đến từ Buenos Aires, và bây giờ cha muốn chính xác thay đổi mọi thứ trong Giáo Hội để làm cho Giáo hội nhân hậu. Làm sao các tín hữu nhận ra điều này là bất cứ điều gì khác ngoại trừ một dấu hiệu của một cuồng vọng đáng sợ? Cha thậm chí tuyên bố Phúc Âm hóa, như cha hiểu về nó, phải không bị hạn chế bởi nỗi sợ hãi do sự “tự duy trì” của Giáo Hội – như thể hai điều ấy cách nào đó đối nghịch nhau!

Giấc mơ mỏng như sương về việc cải cách tất cả mọi thứ được đi kèm với một bàn tay sắt vốn đập vỡ bất kỳ nỗ lực nào nhằm khôi phục lại các vườn nho đã bị tàn phá bởi một nửa thế kỷ của những “cải cách” đầy liều lĩnh. Ví như cha đã tiết lộ trong bản tuyên ngôn của cha (Evangelii Gaudium, 94), cha chứa đầy sự khinh miệt đối với người Công giáo có đầu óc truyền thống, những người mà cha vội vàng kết tội là kẻ “tân dị giáo tự hấp thụ chứng nổi loạn” và “cảm thấy cao trọng hơn người khác vì họ quan sát quy tắc nhất định hoặc vẫn cố chấp trung thành với một phong cách Công giáo cụ thể có từ quá khứ”.

Cha còn thậm chí nhạo báng một “tính đúng đắn phải có của giáo lý hoặc kỷ luật” bởi vì, theo cha, nó “sẽ dẫn đến một chủ nghĩa tinh hoa thái quá và độc tài, theo đó thay vì rao giảng Tin Mừng, người ta lại phân tích và phân loại những người khác …” Nhưng chính cha là người đang liên tục phân loại, phân tích kẻ khác với một dòng bất tận của những lời khinh khi, châm biếm, những lời lăng mạ và kết án những người Công giáo hay lưu ý mà cha cho là không đủ đáp ứng cho “Thiên Chúa của những điều bất ngờ” đã được cha giới thiệu trong Thượng Hội Đồng.

Do đó sự hủy diệt tàn bạo của cha trong sự lớn mạnh của anh em dòng Phanxicô của Đức Mẹ Vô Nhiễm bởi vì một “khuynh hướng hoàn toàn theo truyền thống”. Điều này đã được phát sinh bởi nghị định của cha mà từ đó bất kỳ nỗ lực nào nhằm xây dựng một học viện giáo phận mới cho đời sống thánh hiến (ví dụ, để chứa các thành viên di dời của Anh em trong dòng) sẽ bị vô hiệu và vắng mặt trước “tư vấn” với Tòa Thánh (tức là, trên thực tế sự cho phép vốn có thể và sẽ bị cầm buộc vô thời hạn). Như vậy cha đang làm suy giảm đáng kể sự tự chủ lâu năm của các giám mục trong giáo phận của mình ngay cả khi cha rao giảng một thời đại mới của “tình đồng đạo” và “hội đồng tính”.

Nhắm mục tiêu những tu dòng kín, cha đã ra lệnh tiếp tục các biện pháp buộc phải hiến trao quyền tự chủ của địa phương cho những liên đoàn được điều khiển bởi các quan chức giáo hội, việc thường xuyên ngăn chặn các tu viện đối với sự “hình thành”bên ngoài, sự xâm nhập mang tính bắt buộc của giáo dân vào tu viện để chầu Thánh Thể, tính không hợp lệ thái quá của đa số biểu quyết tu viện nếu họ là “người già”, và là một yêu cầu phổ quát của chín năm “hình thành” trước lời thề cuối cùng, vốn nhất định là để bóp nghẹt những ơn gọi mới và đảm bảo sự biến mất hoàn toàn nhiều dòng tu còn lại.

Xin Thiên Chúa giúp chúng con!

Một hành trình không êm thắm nhằm để thích ứng sự đồi bại dâm dục trong Giáo Hội

Nhưng không có gì vượt quá sự kiêu ngạo và táo bạo mà cha đã không ngừng theo đuổi sự áp đặt lên Giáo Hội phổ quát cái lối thực hành xấu xa mà cha đã cho phép với tư cách Tổng Giám mục Buenos Aires: sự cho phép xúc phạm Bí Tích Thánh đối với những người sống ngoại tình trong “cuộc hôn nhân thứ hai” hoặc sống chung như vợ chồng mà thậm chí không có lợi ích của một nghi lễ dân sự.

Gần như kể từ thời điểm bầu cử của cha, cha đã thúc đẩy “đề nghị Kasper” – điều mà nhiều lần bị Vatican bác bỏ dưới thời đức Gioan Phaolô II. Đức Hồng Y Walter Kasper, một nhà tự do kiến trúc ngay cả trong hàng giáo phẩm tự do của Đức, đã từ lâu tranh cãi cho việc thừa nhận người đã ly dị và “tái hôn” rước lễ trong “một số trường hợp” theo một “con đường sám hối” không có thật vốn sẽ thừa nhận họ nhận Bí tích trong khi họ tiếp tục quan hệ tình dục ngoại tình của họ. Kasper thuộc về cái gọi là “nhóm Thánh Gallen ” vốn vận động cho cuộc bầu cử của cha, và sau đó cha long trọng thưởng cho sự kiên trì trong lầm lạc của ngài, bằng cách đặt cho ngài một danh hiệu quá đỗi hạnh phúc “nhà thần học của ĐGH”.

Cha đã bắt đầu dọn đường cho sự đổi mới mang tính phá hoại bằng một khu nghỉ mát đối với những gì chỉ có thể được gọi là khẩu hiệu mị dân. Như tuyên ngôn của cha (Evangelii Gaudium, 47) tuyên bố vào tháng Mười năm 2013: “Bí tích Thánh Thể, mặc dù là sự viên mãn của đời sống bí tích, không phải là một giải thưởng cho sự hoàn hảo, nhưng là một liều thuốc mạnh mẽ và dưỡng chất cho những người yếu đuối. Những phán quyết này có hậu quả mục vụ mà chúng ta được mời gọi phải xem xét với sự thận trọng và sự táo bạo. Thông thường, chúng ta hành động như trọng tài của ân sủng hơn là những người hỗ trợ nó”.

Lời kêu gọi trắng trợn này nhằm vẽ nên bức tranh đầy cảm xúc về việc tiếp nhận xứng đáng Bí Tích Thánh trong tình trạng ân sủng như “một giải thưởng cho sự hoàn hảo” trong khi lại nói bóng gió một cách đầy nổi loạn rằng Giáo Hội từ quá lâu đã tước Thánh Thể “dưỡng nuôi” khỏi “kẻ yếu đuối”. Do đó lời buộc tội mang sánh bằng tính mị dân của cha rằng các vị thừa hành thiêng liêng của Giáo Hội đã hành động một cách tàn nhẫn như là “những trọng tài hơn là người hỗ trợ của ân sủng” bằng cách phủ nhận mình Thánh Chúa đến “yếu” như trái ngược với “sự hoàn hảo”, và rằng cha phải khắc phục sự bất công này với “sự táo bạo.”

Nhưng tất nhiên Thánh Thể không phải là “dưỡng chất” hay “vị thuốc” để loại bỏ tội trọng. Hoàn toàn ngược lại, việc nhận biết đón nhận Thánh Thể trong trạng thái đó là một sự làm ô uế đầy chết chóc đối với linh hồn ấy và do đó gây ra sự nguyền rủa: ” Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này.  Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. (1 Cor 11:. 27-29). ”

Như bất kỳ đứa trẻ nào được dạy giáo lý đúng cách đều biết, Xưng tội là phương thuốc mà tội trọng được sửa chữa, trong khi Thánh Thể (được hỗ trợ bởi sự trông cậy thường xuyên vào việc xưng tội) là dưỡng chất tinh thần cho việc duy trì và gia tăng tình trạng ân sủng theo sau việc xá tội để người ta không rơi vào tội trọng nữa nhưng phát triển trong sự hiệp thông với Thiên Chúa. Nhưng có vẻ như các khái niệm về tội trọng vắng mặt khỏi những tài liệu các văn bản chính thức, các diễn thuyết, nhận xét và tuyên bố của cha.

Để xóa nghi ngờ về kế hoạch của cha, chỉ một vài tháng sau đó, tại “hội nghị công giáo bất thường về gia đình”, cha đã sắp xếp các sự kiện để không ai khác hơn là Đức Hồng Y Kasper là người phát ngôn chính thức duy nhất. Trong suốt hai giờ diễn thuyết của ngài vào ngày 20 tháng 2 năm 2014, cái diễn thuyết mà cha mong muốn được giữ bí mật nhưng đã bị rò rỉ cho báo chí Ý là một tài liệu “bí mật” và “độc quyền” – Kasper đã trình bày đề xuất điên khùng của ông nhằm thừa nhận người rõ ràng ngoại tình công khai được rước Mình Thánh Chúa trong khi ám chỉ trực tiếp đến khẩu hiệu của cha: “các bí tích không phải là một giải thưởng dành cho những người cư xử tốt hoặc cho một tầng lớp thượng lưu, loại bỏ những người đang cần nhất [EG 47].” Từ đó cha đã không dao động trong quyết tâm của mình để thể chế hóa trong Giáo Hội sự lạm dụng nghiêm trọng về Thánh Thể mà cha đã cho phép ở Buenos Aires.

Về vấn đề này có vẻ như cha đã ít quan tâm đến bí tích hôn nhân như là một thực tế thật khách quan trái ngược với những gì mọi người chủ quan cảm nhận về tình trạng của mối quan hệ vô đạo đức mà Giáo Hội không bao giờ có thể nhận ra như là hôn nhân. Trong chính bài phát biểu sẽ làm mất đi uy tín của triều đại giáo hoàng kỳ lạ của cha cho đến khi kết thúc thời đại, cha tuyên bố rằng “phần lớn các cuộc hôn nhân bí tích của chúng ta là vô giá trị” trong khi những người sống chung chạ như vợ chồng mà không kết hôn có thể là “một cuộc hôn nhân thực sự” vì họ “trung thực”. Phải chăng những nhận xét này có lẽ là một sự phản ánh người chị em của cha đã ly dị và “tái hôn” và các cháu cha đang sống chung chạ như vợ chồng?

Quan điểm này, mà một nhà giáo luật nổi tiếng gọi rất đúng là sự “lố bịch”, được kích động trên toàn thế giới ở một phần các tín hữu. Trong một nỗ lực để giảm thiểu những vụ bê bối, “bản sao chính thức” của Vatican đã thay đổi lời nói của cha từ “tuyệt đại đa số các cuộc hôn nhân bí tích của chúng ta” thành “phần nào cuộc hôn nhân bí tích của chúng ta”, nhưng vẫn còn nguyên vẹn sự thừa nhận đầy ô nhơ của cha dành cho những người chung sống vô đạo đức như “hôn nhân thật sự.”

Cha cũng không dường như quan tâm đến sự phạm thánh liên quan đến người ngoại tình công khai và những người sống chung chạ tiếp nhận Mình và Máu, Linh Hồn và Thần Tính của Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể. Như cha nói với người phụ nữ ở Argentina mà cha đã cho “phép” trên điện thoại để rước lễ trong khi bà đang sống trong tội ngoại tình với một người đàn ông đã ly dị: “Một ít bánh và rượu không có hại đâu”. Cha chưa từng phủ nhận việc tường thuật của người phụ nữ, và nó sẽ chỉ phù hợp với việc cha từ chối quỳ ở lúc truyền phép hoặc trước mặt Thánh Thể khi chầu ngay cả khi cha không gặp khó khăn trong vấn đề quỳ xuống hôn bàn chân của người Hồi giáo trong suốt trò nhái lố bịch của cha về hành động rửa chân trong Thứ Năm Tuần Thánh truyền thống, cái mà cha đã bỏ rơi. Cũng cách ứng xử với những nhận xét của cha dành cho một người phụ nữ giáo phái Luther, trong nhà thờ Tin Lành Lutheran mà cha đã tham dự vào một ngày chủ nhật, rằng tín điều biến đổi bản thể chỉ là một “giải thích”, rằng “cuộc sống là lớn lao hơn so với các cắt nghĩa và giải thích,” và rằng cô ta nên ” nói chuyện với Chúa ” về việc rước lễ tại một nhà thờ Công giáo – điều mà sau đó cô đã làm theo lời khích lệ rõ rang của cha.

Tương tự sự quan tâm ít ỏi của cha dành cho cuộc hôn nhân bí tích là thứ “cải cách” tiến trình hủy bỏ nhanh chóng và bí mật của cha, điều mà cha đã nhét vào Giáo Hội mà không tham khảo bất kỳ phòng ban có thẩm quyền nào của Vatican. Cái khuôn khổ Motu Proprio Mitis IudexDominus Iesuserects của cha cho một nhà máy huỷ diệt đúng nghĩa trên toàn thế giới với thủ tục “nhanh chóng đem lại kết quả” và các căn cứ mới mơ hồ đối với các thủ tục huỷ bỏ hôn ước cực nhanh. Với cương vị người đứng đầu trong cuộc cải cách bí mật đầy trù tính của cha, cha đã giải thích sau đó, ý định rõ ràng của cha là để thúc đẩy giữa các giám mục “một ‘sự chuyển đổi’, một sự thay đổi trong tâm lý vốn thuyết phục và duy trì họ trong việc đi theo theo lời mời gọi của Chúa Kitô, hiện diện trong người anh em của họ, vị Giám mục Roma, để chuyển từ số lượng bị hạn chế của một vài ngàn người hủy bỏ hôn ước thành vô số người bất hạnh có thể có một tuyên bố hủy hôn …”

Như vậy thì có phải “vị Giám Mục Rôma” đang đòi hỏi từ các giám mục anh em của mình một sự gia tăng lớn số lượng hủy bỏ hôn ước! Một nhà báo Công giáo nổi tiếng sau đó đã tường thuật về sự xuất hiện một hồ sơ dài bảy trang, trong đó các quan chức giáo triều “theo pháp lý ”đã tìm kiếm lỗi”  trong cái proprio motu của ĐGH … cáo buộc Đức Giáo Hoàng về việc từ bỏ một tín điều quan trọng, và khẳng định rằng ngài đã giới thiệu chuyện ” ly dị của người Công giáo vốn không được chính thức công nhận “”. Những quan chức này đã lên án những gì nhà báo ấy mô tả như là “một vị “Führerprinzip” thuộc hàng giáo phẩm đang cầm quyền từ trên xuống dưới, bằng nghị định và không có bất kỳ tư vấn hoặc bất kỳ kiểm tra nào”. Cũng các quan chức ấy lo sợ rằng “proprio motu sẽ dẫn đến một cơn lũ hủy bỏ hôn ước và rằng từ bây giờ trở đi các cặp vợ chồng sẽ có thể chỉ đơn giản là thoát khỏi cuộc hôn nhân Công giáo của họ mà không có một vấn đề gì”. Họ đang ” ‘bên cạnh mình’ và cảm thấy bị bắt buộc phải “lên tiếng” … ”

Nhưng cha chẳng là gì nếu không nhất trí trong việc theo đuổi mục tiêu của cha. Đầu triều đại giáo hoàng của cha, trong một cuộc họp báo trong chuyến bay mà cha đã đầu tiên tiết lộ kế hoạch của cha, cha đã nêu: “Những người chính thống đang đi theo thần học kinh tế, như họ gọi nó, và họ cung cấp một cơ hội thứ hai cho hôn nhân, họ cho phép nó. Tôi tin rằng vấn đề này cần phải được nghiên cứu”. Đối với cha, việc thiếu đi bất kỳ “cơ hội thứ hai nào cho hôn nhân” trong Giáo hội Công giáo là một vấn đề cần được nghiên cứu. Cha đã rõ ràng dành ra năm ba năm rưỡi trù liệu đã qua để áp đặt trên Giáo Hội một cái gì đó gần với phong tục chính thống.

Một nhà giáo luật nổi tiếng vốn là người cố vấn cho Tòa án tối cao của Tòa Thánh đã cảnh báo rằng theo như kết quả của việc coi thường đầy táo bạo của cha trong thực tế của cuộc hôn nhân bí tích:

Một cuộc khủng hoảng (theo nghĩa tiếng Hy Lạp của từ đó) về hôn nhân đang diễn ra trong Giáo Hội, và tôi gợi ý nó là một cuộc khủng hoảng vốn sẽ đạt đến mức đầy khó khăn cho kỷ luật và lề luật hôn nhân …. Tôi nghĩ rằng cuộc khủng hoảng hôn nhân mà ngài [đức Francis] sẽ gây ra sẽ trầm trọng đến nỗi bất chấp Giáo Hội giảng dạy ra sao về hôn nhân, trong đó tất cả mọi người đều tuân theo, sẽ được bảo vệ một cách cụ thể và hiệu quả trong luật Giáo Hội, hoặc, cho dù các loại kinh điển đối đãi học thuyết hôn nhân ra sao đều trở thành quá méo mó (hoặc chỉ đơn giản là bỏ qua) đến nỗi cần thiết phải trao phó hôn nhân và cuộc sống hôn nhân cho từng cá nhân và lương tâm cá nhân tự xét lấy.

 

Amoris Laetitia:  Động lực thật cho Thượng Hội Đồng giả mạo

Cuộc khủng hoảng đó đã lên tới đỉnh điểm sau khi kết thúc “Thượng Hội Đồng về gia đình” thảm khốc của cha. Mặc dù cha thao túng sự kiện này từ đầu đến cuối để có được những kết quả mà cha mong muốn – Thánh Thể dành cho kẻ ngoại tình công khai trong “những trường hợp nhất định” – nó không tốt như cha kỳ vọng bởi vì sự phản đối của các nghị phụ Thượng Hội Đồng mà cha một cách mị dân đã lên án họ có “tấm lòng khép kín, thường ẩn núp ngay cả đằng sau những lời dạy của Giáo Hội hay những ý định tốt, để ngồi vào chiếc ghế của Môi-sê và thẩm phán, đôi khi có phần kẻ cả và  hời hợt, nhiều trường hợp phức tạp và những cảnh gia đình bị tổn thương”.

Trong một sự lạm dụng tàn bạo của hùng biện, cha so sánh các giám mục chính thống đối lập của cha là những người Pharisêu, người đã thực hành ly hôn và “tái hôn” theo luật Môisê. Đây chính là những giám mục bảo vệ giáo huấn của Chúa Kitô chống lại những người Pharisêu và các kế hoạch của riêng cha! Thật vậy, cha dường như có ý định làm sống lại một sự chấp nhận ly hôn của người Biệt Phái bằng cách “thực hành tân theo luật Môisê”. Một nhà báo Công giáo nổi tiếng được biết đến với lối ôn hòa của mình trong việc phân tích các vấn đề Giáo Hội đã phản đối hành vi đáng bị khiển trách của cha: “Đối với một giáo hoàng việc chỉ trích những người vẫn trung thành với truyền thống đó, và mô tả họ như là không có lòng thương xót và xếp họ vào loại người Pharisêu cứng lòng chống lại Chúa Giêsu đầy thương xót là việc làm kỳ quái”.

Cuối cùng, “hành trình Thượng Hội Đồng” mà cha tán dương đã bị tiết lộ là không ra gì, nhưng là một sự che giấu giả mạo cái kết luận đã qua của “Tông Huấn” kinh khủng của cha –  Amoris Laetitia. Trong đó những người viết mướn của cha, chủ yếu trong Chương Tám, sử dụng sự mơ hồ đầy xảo quyệt để mở rộng cửa Rước lễ cho kẻ ngoại tình công khai bằng cách làm giảm nhẹ luật tự nhiên cấm tội thông dâm thành một “quy tắc chung” để mà có thể có trường hợp ngoại lệ đối với những người “gặp khó khăn lớn trong sự hiểu biết những giá trị vốn có của nó” hoặc đang sống “trong một tình huống cụ thể vốn không cho phép anh ta hoặc cô ta hành động khác đi… (¶¶ 2, 301, 304) “. Amoris là một nỗ lực minh nhiên nhằm luồn lách một hình thức giảm nhẹ về tình trạng đạo đức thành các vấn đề về đạo đức tình dục, nếu như lầm lỗi có thể vì đó được hạn chế.

Nỗi ám ảnh hiển nhiên của cha với việc hợp pháp hóa Thánh Thể cho kẻ ngoại tình công khai đã dẫn cha đến việc thách thức giáo huấn đạo đức không thay đổi và kỷ luật bí tích của Giáo Hội có bản chất liên quan, được khẳng định bởi cả hai vị tiền nhiệm gần nhất của cha. Kỷ luật đó là dựa trên giáo huấn của chính Chúa chúng ta về tính bất khả phân ly của hôn nhân cũng như giáo huấn của Thánh Phaolô về sự trừng phạt của Thiên Chúa do việc tiếp nhận Thành Thể cách bất xứng. Để trích dẫn đức Gioan Phaolô II trong vấn đề này:

Tuy nhiên, Giáo Hội khẳng định thực hành của mình, vốn dựa trên Thánh Kinh, không thừa nhận trao Thánh Thể cho người ly dị đã tái hôn. Họ không thể được thừa nhận thêm nữa từ thực tế rằng tình trạng và điều kiện sống của họ một cách khách quan mâu thuẫn hợp với sự hiệp nhất tình yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội được biểu thị và thực hiện qua phép Thánh Thể. Bên cạnh đó, còn có một lý do mục vụ đặc biệt: nếu những người này được được phép rước Thánh Thể, các tín hữu sẽ bị dẫn vào lầm lạc và nhầm lẫn về giáo huấn của Giáo Hội về tính bất khả phân ly của hôn nhân.

Việc giao hoà trong các Bí tích Hòa giải mà trong đó sẽ mở đường cho Bí Tích Thánh Thể, chỉ có thể được ban cho những người, đang hối hận vì đã phá vỡ dấu hiệu của giao ước và lòng trung thành với Chúa Kitô, một cách chân thành sẵn sàng để thực hiện một lối sống không còn mâu thuẫn với tính bất khả phân ly của hôn nhân. Trong thực tế điều này có nghĩa rằng khi, vì lý do nghiêm trọng, chẳng hạn như việc giáo dục trẻ em, một người đàn ông và một người phụ nữ có thể không đáp ứng các nghĩa vụ để cách ly, chính họ phải “thực hiện nhiệm vụ phải sống trong chế dục hoàn toan, có nghĩa là, bằng cách kiêng các hành vi thích hợp dành cho các cặp vợ chồng đã kết hôn. “[Familiaris Consortio, n. 84]

Cha đã bỏ qua những lời cầu khẩn trên toàn thế giới của các linh mục, các nhà thần học và triết học đạo đức, các hiệp hội Công giáo và nhà báo, và thậm chí một vài giám mục can đảm trong số hàng giáo phẩm khác im lặng, phải rút lại hay “làm rõ” sự mơ hồ có khuynh hướng và lỗi hoàn toàn của Amoris, đặc biệt là ở Chương Tám .

 

Một lỗi đạo đức trầm trọng giờ đây đã rõ ràng được thừa nhận

Và bây giờ, ngoài một sử dụng quanh co về sự mơ hồ, cha đã rõ ràng cho phép đằng sau hậu trường những gì cha đã dung túng một cách mơ hồ ở nơi công cộng. Gian kế đã bị đưa ra ánh sáng với sự rò rỉ bức thư “bí mật” của cha gửi cho các giám mục của địa phận mục vụ của Buenos Aires, nơi mà với tư cách Tổng Giám mục, cha đã cho phép đại chúng phạm thánh trong biệt thự (khu ổ chuột).

Trong thư này cha khen ngợi tài liệu của các giám mục về “Tiêu chuẩn cơ bản cho việc ứng dụng Chương Tám Amoris Laetitia” – như thể đã có một số nhiệm vụ “áp dụng” tài liệu này nhằm để tạo ra một sự thay đổi trong kỷ luật bí tích hai ngàn năm của Giáo Hội. Cha viết: “Tài liệu này có giải thích rất tốt và hoàn hảo ý nghĩa của chương VIII của Amoris Laetitia. Không có cách giải thích nào khác”. Có một sự trùng hợp rằng tài liệu này được lấy từ chính tổng giáo phận nơi mà, với tư cách là Tổng Giám mục, cha từ lâu đã ủy quyền ệc cho phép kẻ ngoại tình công khai và những người sống chung cha được rước lễ?

Điều gì duy nhất đã được ngụ ý rõ ràng trước kia thì bây giờ được thực hiện một cách rõ ràng, và những ai đã khăng khăng Amoris chẳng có gì thay đổi đã làm giống như kẻ ngu ngốc. Tài liệu mà giờ đây cha ca ngợi là cách giải thích đúng đắn duy nhất về Amoris đang triệt để phá hoại giáo lý và thực hành của Giáo hội mà những vị tiền nhiệm của cha đã bảo vệ. Trong phần đầu, nó làm suy giảm thành một “lựa chọn” mệnh lệnh đạo đức mà những cặp vợ chồng ly dị và “tái hôn” đang “sống trong việc tiết dục hoàn toàn, có nghĩa là, bằng cách kiêng các hành vi thích hợp đối với các cặp vợ chồng đã kết hôn”. Theo các giám mục của Buenos Aires – với sự phê chuẩn của cha – đó chỉ là “khả năng đề nghị rằng họ đang nỗ lực sống trong tiết dục. Amoris Laetitia không bỏ qua những khó khăn của tùy chọn này “.

Như Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin tuyên bố dứt khoát chỉ 18 năm trước đây trong triều đại của ĐGH mà chính cha đã phong thánh: “nếu cuộc hôn nhân trước của hai thành viên đã ly dị và tái hôn của các tín hữu là hợp lệ, trong mọi trường hợp hôn nhân mới của họ không thể được xem xét hợp pháp và do đó việc tiếp nhận bí tích này về bản chất là không thể. Lương tâm cá nhân bị ràng buộc vào định mức này mà không có ngoại lệ”. Đây là giáo huấn không đổi của Giáo hội Công giáo suốt hai thiên niên kỷ.

Hơn nữa, không có linh mục giáo xứ hay thậm chí là một giám mục nào có quyền lực để vinh danh trong cái gọi là  “diễn đàn nội bộ” của một đời sống phạm tội ngoại tình mà “lương tâm” nói với kẻ đó rằng cuộc hôn nhân bí tích của người đó là thực sự không hợp lệ bởi vì, như CDF đã khuyên nhủ xa hơn, “hôn nhân có một đặc tính giáo hội công khai cơ bản và tiên đề này áp dụng cái iudex nemo in propria causa (không có ai là thẩm phán trong trường hợp của chính mình), các trường hợp hôn nhân phải được giải quyết trong các diễn đàn bên ngoài. Nếu các thành viên tín hữu ly dị và tái hôn tin rằng cuộc hôn nhân trước của họ là không hợp lệ, thì họ đang bị bắt buộc phải kháng cáo lên tòa án hôn nhân có thẩm quyền để thắc mắc sẽ được xem xét một cách khách quan và theo tất cả các khả năng pháp lý sẵn có”.

Sau khi đã hạ cấp quy tắc đạo đức được bén rễ trong sự mặc khải của Thiên Chúa thành một tùy chọn không thể chấp nhận được, các giám mục của Buenos Aires, đối với họ, trích dẫn Amoris như là một sự cho phép có thẩm quyền duy nhất trong 2.000 năm giáo huấn Giáo Hội. Tông huấn này tuyên bố tiếp: “Trong những tình huống phức tạp hơn, và khi người ta không thể được một tuyên bố hủy hôn, thì trên thực tế cái tùy chọn ở trên có thể không có tính khả thi”. Do đó một qui tắc luân lý phổ quát bị hạ cấp thành thể loại của một phương châm chỉ để được bỏ qua nếu một linh mục địa phương xét thấy “không khả thi” trong “một số hoàn cảnh phức tạp” không được xác định. Những gì chính xác là những” hoàn cảnh phức tạp “và những gì” phức tạp” phải làm với các chuẩn mực đạo đức không thể chấp nhận được thành lập trên sự mặc khải?

Cuối cùng, các giám mục này đi đến kết luận tai hại mà cha đã trù định để áp đặt vào Giáo Hội từ đầu “cuộc hành trình của Thượng Hội Đồng”:

Tuy nhiên, khả năng để thực hiện một cuộc hành trình của sự phân định là ngang nhau. Nếu một người đi đến công nhận rằng, trong một trường hợp cụ thể, có những hạn chế vốn thu hẹp phạm vi trách nhiệm và tội lỗi (x 301-302), đặc biệt là khi một người xét rằng mình sẽ rơi vào một lỗi lầm tiếp theo bởi việc làm tổn hại đến con cái của cuộc hôn nhân mới, thì Amoris Laetitia lại mở ra khả năng tiếp cận với các bí tích Hòa Giải và Thánh Thể (cf. ghi 336 và 351). Những yếu tố này tiếp đến sẽ giúp người ta để tiếp tục trưởng thành và phát triển với sự trợ giúp của ân sủng.

Với lời khen ngợi và sự tán thành của cha, các giám mục của Buenos Aires lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội tuyên bố rằng một lớp người được xác định là bệnh hoạn đang sống trong ngoại tình có thể được tha tội và rước lễ trong khi còn trong trạng thái đó. Những hậu quả thật là thảm khốc.

Xin hãy cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng.

TC chuyển dịch từ: http://remnantnewspaper.com/web/index.php/articles/item/2766-with-burning-concern-we-accuse-pope-francis#part1Anchor

Muốn đọc phần I xin ấn vào đây