Với nỗi bức xúc: Chúng con buộc tội Đức Giáo Hoàng Francis – Phần III

Một “Thực hành Mục Vụ” xung đột với giáo lý

Cha đã phê duyệt như là lối giải thích đúng đắn duy nhất về Amoris một tính toán thuộc về luân lý mà trong thực tế sẽ phá hoại toàn bộ trật tự đạo đức, không chỉ các chuẩn mực đạo đức tình dục mà cha rõ ràng đang tìm cách lật đổ. Đối với việc áp dụng hầu hết các tiêu chuẩn đạo đức có thể bị coi là “không khả thi” bởi lời mời gọi đầy ma lực của “hoàn cảnh phức tạp” để được “phân biệt” bởi một linh mục hay giám mục trong “thực hành mục vụ” trong khi quy chuẩn đó được bảo vệ một cách ngoan đạo càng không bị thay đổi và không thể thay đổi như một “nguyên tắc chung”.

Tiêu chí mơ hồ của “những hạn chế mà trách nhiệm thu hẹp và việc phạm tội” có thể được áp dụng cho tất cả các cách thức của tội trọng thường gặp, bao gồm việc sống chung chạ mà cha đã ví như “hôn nhân thật sự”; những “hôn nhân đồng giới” vốn được hợp pháp hóa  thì cha đã từ chối chống đối – và biện pháp tránh thai, trong đó thật kinh khủng cha đã tuyên bố cho phép về mặt đạo đức để ngăn chặn sự lây truyền bệnh, điều mà Vatican sau đó đã xác nhận trong thực tế là quan điểm của cha.

Như vậy Giáo Hội “trong những trường hợp nhất định” sẽ mâu thuẫn trong thực tế với những gì đang dạy về nguyên tắc liên quan đến đạo đức, có nghĩa là cái nguyên tắc đạo đức thực tế đang bị lật đổ. Vào khoảng giữa cái Thượng Hội Đồng giả mạo ấy, nhưng không đề cập đến cha, Đức Hồng Y Robert Sarah đã đúng đắn lên án như một sự phân ly giả dối giữa những giáo huấn đạo đức và “ứng dụng mục vụ” của chúng: “Ý tưởng này vốn sẽ bao gồm trong việc đặt Huấn Quyền trong một cái hộp tốt đẹp bằng cách tách rời nó ra khỏi mục vụ thực hành – điều mà có thể phát triển theo hoàn cảnh, mốt nhất thời, và niềm đam mê – là một hình thức của dị giáo, một bệnh lý tâm thần phân liệt nguy hiểm”.

Tuy nhiên, như cha muốn có nó, dựa trên “sự sáng suốt” của các linh mục địa phương hoặc những người thông thường nào đó đang sống trong một điều kiện khách quan của tội ngoại tình có thể được coi là đương nhiên vô tội và được thừa nhận rước lễ mà không có bất kỳ cam kết sửa đổi nào về đời sống mặc dù họ biết Giáo Hội dạy rằng mối quan hệ của họ là ngoại tình. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, nhà triết học người Áo nổi tiếng là Josef Seifert, một người bạn của ĐGH Gioan Phaolô II và là một trong những người chỉ trích Amoris vốn từng có lời cầu xin riêng tư cho việc sửa chữa lại hoặc rút lại cái tài liệu đó mà cha đã phớt lờ, đã công khai ghi nhận sự phi lý về mặt đạo đức và mục vụ của những gì mà giờ đây cha rõ ràng thông qua:

Làm thế nào áp dụng được điều đó? Liệu vị linh mục sẽ nói với một kẻ ngoại tình: “quý vị là một kẻ ngoại tình tốt, đang sống trong tình trạng ân sủng; là một người rất sùng đạo, vì vậy quý vị sẽ có được xá của tôi mà không cần thay đổi cuộc sống của mình và quý vị có thể đi rước lễ”.Và trong trường hợp khác, linh mục này nói:”ồ, quý vị là một kẻ ngoại tình thật sự. Trước tiên, quý vị phải thú nhận xưng thú tội lỗi, phải bỏ lối sống hiện tại của mình. Quý vị phải thay đổi cuộc sống của mình rồi mới có thể đi rước lễ”.

Ý tôi là, chuyện đó làm thế nào được? …. Làm thế nào một linh mục có thể là một vị thẩm phán của một linh hồn nào đó, nói rằng người này là một tội nhân thực sự còn người kia chỉ là một người vô tội, người tốt? Chuyện này dường như hoàn toàn không thể. Chỉ có một linh mục thuộc loại như Cha Padre Pio mới nhìn thấu các linh hồn mới có thể nói điều đó, và ngài [Padre Pio] cũng sẽ không nói như vậy ….

Với lời khen ngợi và chấp thuận của cha, các giám mục của Buenos Aires thậm chí còn gợi ý rằng những đứa trẻ sẽ bị tổn thương nếu những cha mẹ đã ly dị và “tái hôn” của chúng không được phép tiếp tục tham gia vào quan hệ tình dục ngoài hôn nhân trong khi họ đang làm ô nhơ Thánh Thể. Một người biện hộ đầy quỷ kế khởi sự từ giáo huấn vang dội của cha phỏng đoán rằng điều này có nghĩa là tội ngoại tình chỉ là một tội nhẹ nếu một người phạm tội ngoại tình bị “cưỡng ép” để tiếp tục tham gia vào quan hệ tình dục ngoại tình vì người còn lại đe dọa rời bỏ con cái trừ khi phải làm cho họ thỏa mãn tình dục. Theo suy luận đạo đức, bất kỳ tội trọng nào, bao gồm cả phá thai, cũng sẽ được biện hộ là có thể tha thứ được chỉ bởi sự đe dọa của một bên muốn kết thúc một mối quan hệ ngoại tình nếu bên kia không chịu đồng lõa phạm tội (tội ngoại tình hoặc tội phá thai).

Thậm chí tệ hơn nữa, có khả năng là, các giám mục của Buenos Aires, chỉ dựa vào sự mới lạ của mình, dám đề nghị rằng những ai tiếp tục thói quen tham gia vào quan hệ tình dục dâm đãng này sẽ lớn lên trong ân sủng trong khi lại rước lễ một cách phạm thánh.

Do đó cha đã âm mưu không chỉ là “thay đổi về kỷ luật” mà còn thay đổi triệt để học thuyết đạo đức cơ bản vốn sẽ thể chế hóa một hình thức của những luân lý đạo đức trong Giáo Hội một cách hiệu quả, làm suy giảm những giới luật luân lý khách quan có tính ràng buộc phổ quát thành những quy định chung mà từ đó sẽ có vô số “ngoại lệ” đầy chủ quan dựa trên “những hoàn cảnh phức tạp” và “hạn chế” được cho là sẽ làm giảm thói quen tội trọng thành tội nhẹ hoặc thậm chí chỉ là lỗi lầm nhưng không gặp trở ngại gì cho việc rước lễ.

Nhưng Thiên Chúa Nhập Thể đã không thừa nhận có “ngoại lệ” như vậy khi Người ra sắc lệnh đầy thẩm quyền thiêng liêng của Người: “Bất cứ ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị chồng rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình. (Lc 16,18)”.

Hơn nữa, như Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin dưới thời Đức Gioan Phaolô II đã công bố việc loại bỏ “đề nghị Kasper” vốn rõ ràng từng là đề nghị của cha ngay từ ban đầu: “Quy tắc này [loại bỏ những người tà dâm công khai khỏi các bí tích] không phải là một sự trừng phạt hay phân biệt đối xử chống lại người ly dị và tái hôn, nhưng thể hiện một tình trạng khách quan về bản thân khiến những người gây nên không thể tiếp nhận mình Thánh Chúa. ”

Đó là, Giáo Hội không bao giờ có thể cho phép những người đang sống trong ngoại tình được cư xử như thể mối hôn nhân vô đạo đức của họ là hôn nhân hợp lệ, ngay cả khi những người dính dáng ngoại tình này vô lý tuyên bố chủ quan vô tội trong khi cố sống trong sự vi phạm giáo huấn không thể sai lầm của Giáo Hội. Vì cái bê bối rành rành này sẽ làm xói mòn và cuối cùng là hủy hoại niềm tin của nhân chứng trong cả tính bất khả phân ly của hôn nhân và sự hiện diện thật của Chúa Kitô trong Thánh Thể. Với sự chấp thuận hoàn toàn của cha, đương nhiên các giám mục của Buenos Aires đã từ chối lời dạy của đức Gioan Phaolo II trong Familiaris Consortio rằng “nếu những người này được cho phép rước Thánh Thể thì các tín hữu sẽ bị dẫn dắt vào lỗi lầm và sự nhầm lẫn về giáo huấn của Giáo Hội về tính bất khả phân ly của hôn nhân”.

Do đó vào chính thời điểm này trong lịch sử Giáo Hội cha đang dẫn dắt các tín hữu “vào sai lầm và sự nhầm lẫn về giáo huấn của Giáo Hội về tính bất khả phân ly của hôn nhân”. Thật vậy, rất rõ ràng cha đang áp đặt ý chí sai trái của cha trên Giáo Hội mà trong Amoris (số. 303) cha đã dám cho rằng chính Thiên Chúa dung túng cho các mối quan hệ tình dục liên tục của những người ly dị và “tái hôn” nếu họ không thể làm gì tốt hơn trong hoàn cảnh “phức tạp” của họ:

Tuy nhiên, lương tâm có thể làm nhiều hơn là nhận thức rằng một tình huống nhất định không tương ứng khách quan với các nhu cầu chung của Tin Mừng. Người ta cũng có thể nhận ra sự chân thành và trung thực những gì vào lúc này là sự đáp trả hào phóng nhất có thể được trao cho Thiên Chúa, và hãy nhìn xem bằng một sự an toàn đạo đức nào đó rằng đó những gì chính Thiên Chúa đang đòi hỏi trong bối cảnh phức tạp cụ thể về giới hạn của một người, trong khi chưa hoàn toàn là lý tưởng khách quan.

Khi phê duyệt một cách rõ ràng Thánh Thể Chúa có thể ban cho một số kẻ ngoại tình công khai trong bức thư của cha gửi đến Buenos Aires cha cũng làm giảm hơn nữa khả năng của các giám mục bảo thủ đang duy trì giáo huấn truyền thống của Giáo Hội. Làm sao các giám mục tại Mỹ, Canada và Ba Lan có thể, ví dụ, tiếp tục nhấn mạnh về kỷ luật hai ngàn năm truyền thống của Giáo Hội, được kết nối một cách có bản chất với chân lý được mạc khải, khi cha đã phân phát với nó ở Buenos Aires thẩm quyền thuộc “Tông huấn” của cha? Dựa vào đâu họ sẽ đứng lên chống lại một đám phản đối trong lúc này khi mà cha đã gỡ bỏ nền tảng truyền thống từ dưới chân của họ?

Tóm lại, sau nhiều năm mơ hồ đầy quỷ quyệt về vị thế của kẻ ngoại tình công khai liên quan đến việc Xưng tội và rước lễ,  giờ đây cha chỉ một cách xảo trá tuyên bố việc lật đổ có mục đích giáo lý và thực hành của Giáo Hội bằng cách sử dụng một lá thư “bí mật” mà cha ắt phải biết là sẽ bị rò rỉ, được gửi đi nhằm đáp ứng với một tài liệu từ Buenos Aires mà cha có thể cũng đã trưng cầu như là một phần của quá trình cha đang hướng dẫn từ cái “Thượng Hội Đồng về gia đình” giả mạo đã được công bố.

Như nhà Công giáo đầy trí tuệ và là tác giả Antonio Socci đã viết: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Giáo Hội một vị Giáo Hoàng ký vào một sự đảo lộn về luật luân lý”. Chưa từng có Giáo Hoàng nào trước kia đã từng gây ra như một sự phẫn nộ như vậy.

“Những ngoại lệ” đối với Luật đạo đức không thể được hạn chế

Thật quá kỳ lạ, tuy nhiên, phép tính toán về đạo đức mới của cha dường như không áp dụng cho những tội lỗi khác mà cha liên tục lên án trong khi lại quan sát cẩn thận các giới hạn của sự đúng đắn chính trị.  Ví dụ không nơi nào cha tỏ cho thấy rằng “hoàn cảnh phức tạp” hoặc “những hạn chế vốn thu hẹp trách nhiệm và việc phạm tội “sẽ tha cho các tên mafia cha đã hùng hồn “phạt vạ tuyệt thông” dân chúng và cảnh báo về Hỏa ngục, những người giàu có thì cha lên án là “kẻ hút máu” hoặc thậm chí những nhà Công giáo có đầu óc quan sát thì cha lố bịch cáo buộc “tội bói toán” và “tội thờ ngẫu tượng” bởi vì họ sẽ không chấp nhận “những bất ngờ của Thiên Chúa” – nghĩa là những mới lạ của cha.

Toàn bộ triều đại giáo hoàng của cha dường như đã tập trung vào việc tuyên bố ân xá cho những tội lỗi của xác thịt mà thôi, chính thứ tội lỗi mà như Đức Mẹ Fatima đã cảnh báo sẽ khiến thêm nhiều linh hồn sa Hỏa ngục hơn bất kỳ điều gì khác. Nhưng những gì khiến cha nghĩ rằng vị thần đèn đạo đức mà cha đã phóng thích khỏi cái chai, mà cha gọi là “Thiên Chúa của bất ngờ” có thể bị giới hạn chỉ cho những giới luật đạo đức mà cha cho là quá cứng nhắc trong ứng dụng? Để tạo ra những ngoại lệ đối với một giáo huấn vô đạo đức thì một cách hiệu quả phải hủy bỏ tất cả. Các cuộc tấn công mới lạ của cha vào những nền tảng của Đức Tin và đe dọa lật đổ toàn bộ dinh thự luân lý của Giáo Hội “giống như một thứ yếu ớt dễ bị phá hủy” – chính cái kết quả mà cha đã cáo buộc những người Công giáo quan sát đang quảng bá vì  “chủ nghĩa khắc nghiệt” và sự gắn bó của họ với “những quy tắc hẹp hòi “.

Nhưng cha không chú ý hậu quả quá rõ ràng. Khi được hỏi về cách tiếp cận của cha đối với sự phản đối từ những người “siêu bảo thủ”, nghĩa là các giám mục và hồng y chính thống, cha đã trả lời với vẻ không lo lắng đầy kiêu ngạo đó là một dấu hiệu của việc cai quản của Giáo Hội: “Họ làm công việc của họ và tôi làm việc của tôi. Tôi muốn một Giáo Hội mở ra, hiểu biết, đi kèm với các gia đình bị tổn thương. Họ nói không với tất cả mọi thứ. Tôi đi về phía trước mà không chú ý hiểm họa”.

Trong một phô trương đáng kinh ngạc về sự khinh dể đầy ngạo mạn đối với Giáo Hội mà cha đã được bầu làm người đứng đầu, cha dám nói rằng: “Chính Giáo Hội đôi khi đi theo một đường lối cứng rắn nên sa ngã vào sự cám dỗ đi theo một đường lối cứng rắn, vào sự cám dỗ của việc chỉ nhấn mạnh các quy tắc đạo đức mà nhiều người bị loại trừ”.

Chưa bao giờ có một vị giáo hoàng nào tuyên bố rằng cá nhân ông sẽ khắc phục sự thiếu cởi mở và hiểu biết của Giáo Hội và sự “cám dỗ” của Giáo hội để có một “đường lối cứng rắn” về đạo đức để rồi “loại trừ” giáo dân. Những tuyên bố kiêu căng đáng báo động như vậy dấy lên ấn tượng rõ ràng rằng cuộc thắng cử không mong đợi của cha đại diện cho một sự hình thành của thời cuối như đã được tiên báo.

Phớt lờ tất cả lời cầu xin, cha vẫn cứ tăng tốc cuộc “cách mạng” của cha

Trong lúc cha làm công việc phá hoại của cha, cha đã bỏ qua mọi lời cầu khẩn rất riêng tư gửi cho cha, bao gồm vô số những yêu cầu đòi cha xác nhận rằng Amoris Laetitia không đi ra ngoài giáo huấn trước kia, cũng như một tài liệu được chuẩn bị bởi một nhóm các học giả Công giáo đã xác định các mệnh đề dị giáo và sai lầm trong Amoris và nài nỉ cha lên án và rút chúng ra. Rõ ràng là cha không có ý định chấp nhận sự sửa đổi mang tình huynh đệ từ bất cứ ai, thậm chí cả những Hồng y đã yêu cầu cha “làm rõ” sự phù hợp của việc giảng dạy của cha với Huấn Quyền không thể sai lầm.

Ngược lại, các tín hữu càng báo động thì cha lại càng hành động mạnh dạn hơn. Việc tiếp tục nới lỏng chương trình của cha trong thực tế của giáo huấn luân lý của Giáo Hội liên quan đến tình dục, cha đã ủy quyền cho Hội đồng Giáo hoàng về Gia đình để công bố lớp học đầu tiên về chương trình “giáo dục giới tính” chưa từng được Tòa Thánh ban hành. Một trong những hiệp hội của các tín hữu giáo dân đã nổi lên để bảo vệ đức tin khi đối mặt với sự im lặng chung của hàng giáo phẩm trước sự tấn công của những giải pháp mới lạ của cha đã xuất bản tóm lược về chương trình giảng dạy kinh khủng này, cái chương trình ngang nhiên vi phạm giáo huấn không hề thay đổi của Giáo Hội chống lại bất kỳ hình thức lớp học “giáo dục giới tính” nào:

  • Bàn giao sự hình thành giới tính của trẻ em cho các nhà giáo dục trong khi loại bỏ cha mẹ ra khỏi phương trình.
  • Không nêu tên và lên án hành vi tình dục, chẳng hạn như gian dâm, mại dâm, ngoại tình, tình dục bất thường, hành vi đồng tính luyến ái, và thủ dâm, các hành động khách quan tội lỗi vốn phá hủy lòng bác ái nơi tâm hồn và khiến người ta xa lìa Thiên Chúa.
  • Không cảnh báo giới trẻ về khả năng cách xa đời đời khỏi Thiên Chúa (nguyền rủa) vì phạm tội dâm dục nghiêm trọng. Không đề cập đến Hỏa ngục một lần nào.
  • Không phân biệt giữa tội trọng và tội nhẹ.
  • Không nói về điều răn thứ 6 và thứ 9, hoặc bất cứ điều răn khác.
  • Không dạy về bí tích giải tội như một cách để khôi phục lại mối quan hệ với Thiên Chúa sau khi phạm tội trọng.
  • Không nhắc đến một cảm giác lành mạnh về sự xấu hổ khi nói đến cơ thể và tình dục.
  • Cùng dạy cho bé trai và bé gái trong cùng một lớp.
  • Để cho bé trai và bé gái chia sẻ sự hiểu biết của chúng với nhau trong lớp về các cụm từ như: “chữ tình dục khiến bạn nghĩ gì?”
  • Hỏi một lớp gồm nam nữ “chỉ ra tính dục nằm ở bộ phận nào của các bé trai và bé gái.”
  • Nói về “quá trình hưng phấn.”
  • Sử dụng các hình ảnh khiêu dâm và gợi ý trong sách bài tập hành động (ở đây, ở đây, và ở đây).
  • Đề nghị nhiều phim mang tính tục tĩu như là bàn đạp để thảo luận ….
  • Không nói phá thai là sai lầm trầm trọng, nhưng chỉ nói nó gây ra “thiệt hại tâm lý mạnh mẽ.”
  • Gây nhầm lẫn cho giới trẻ bằng cách sử dụng các cụm từ như “mối quan hệ tình dục” để chỉ ra rằng không phải là hành vi tình dục mà là một mối quan hệ được tập trung vào toàn thể con người.
  • Nói về “tình dục khác giới” như một cái gì đó để được “khám phá “.
  • Sử dụng một người “đồng tính” nổi tiếng như là một ví dụ về một người tài năng và nổi tiếng.
  • Thừa nhận mô hình “hẹn hò” như một bước tiến tới hôn nhân.
  • Không nhấn mạnh sự độc thân như là hình thức cao nhất của tự hiến vốn tạo nên ý nghĩa của tính dục con người.
  • Không đề cập đến giáo huấn của Chúa Kitô về hôn nhân.

Cũng cái hiệp hội này nhận xét rằng chương trình “vi phạm các chuẩn mực trước đây do chính Hội đồng giáo hoàng này” ban hành. Một hiệp hội giáo dân khác phản đối rằng người ta “thường xuyên sử dụng thuần thục các hình ảnh phản đối mang tính tình dục rõ ràng và về mặt đạo đức, không xác định và giải thích rõ giáo lý Công giáo từ các nguồn chính yếu bao gồm Mười Điều răn và Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, và thoả hiệp về sự ngây thơ và tính toàn vẹn của những người trẻ dưới mối quan tâm đúng đắn của cha mẹ”. Để cho các lãnh đạo trong phong trào gia đình Công giáo có quyền lên án nó như là “vô đạo đức triệt để”, “hoàn toàn không phù hợp” và ” hoàn toàn bi thảm”. Như một trong số họ đã tuyên bố:” Cha mẹ không được đánh giá thấp bất kỳ ảo tưởng nào: triều đại giáo hoàng của Đức Francis đã đánh dấu sự đầu hàng của các quan chức Vatican đối với cách mạng tình dục trên toàn thế giới và những đe dọa trực tiếp đến con cái họ”.

Nhưng cái nguyên tắc cấp tiến này từ lời giảng dạy và thực hành trước kia chỉ phù hợp với những mới lạ của Amoris, vốn tuyên bố “sự cần thiết cho giáo dục giới tính” trong những “cơ sở giáo dục”, trong khi hoàn toàn bỏ qua giáo huấn truyền thống của Giáo Hội rằng cha mẹ chứ không phải giáo viên trong lớp học phải có trách nhiệm chính đưa ra bất kỳ chỉ dẫn cần thiết nào cho con cái của họ trong lĩnh vực nhạy cảm nhất này, chăm chút không để “cho nó biến thành điều vụn vặt” nhưng “dùng những biện pháp để tạo ra hiệu ứng kép mở ra cánh cửa cho đức trong trắng và ngăn chận tánh xấu”.

Tuy nhiên “Cuộc cách mạng” của cha hầu như không giới hạn trong vấn đề tình dục. Gần đây cha cũng đã triệu tập một ủy ban, trong đó có sáu phụ nữ, để “nghiên cứu” các vấn đề về “nữ phó tế”, vốn từng được một ủy ban Vatican nghiên cứu vào năm 2002. Ủy ban đó đã kết luận rằng phó tế thuộc về các giáo sĩ được truyền chức cùng với các linh mục và giám mục và những người được gọi là “nữ trợ giáo” trong Giáo Hội trước kia không được thụ phong linh mục thừa tác, mà chỉ là những người giúp đỡ giáo hội và không có quyền hạn hơn các nữ tu – những người làm những việc được giới hạn cho phụ nữ, nhưng chắc chắn không phải là rửa tội hoặc hôn nhân. Do đó các “nữ trợ giáo” mà dường như cha chiêm ngưỡng sẽ không gì khác hơn những phụ nữ giả mạo trong bộ trang phục của hàng giáo sĩ, là người nữ không thể nhận được bất kỳ cấp độ nào của Bí Tích Truyền Chức Thánh.

Khi cha tiếp tục làm suy yếu lòng tôn trọng đối với mức độ hoàn hảo và tính cách siêu nhiên của bí tích hôn nhân có vẻ như cha đang chuẩn bị để làm suy yếu thêm một sự tôn trọng nữa đã bị hạ cấp đáng kể đối với các linh mục nam. Điều gì tiếp theo? Có lẽ một “nới lỏng” truyền thống tông truyền về đời sống độc thân của hàng giáo sĩ, mà cha đã tuyên bố là “trong chương trình nghị sự của tôi”.

Và bây giờ, khi cuộc “cách mạng” của cha tiếp tục tăng tốc, cha chuẩn bị khởi hành đi Thụy Điển vào tháng Mười, nơi mà cha sẽ tham gia vào một “cầu nguyện” chung với một “giám mục” Tin Lành đã kết hôn, người dẫn đầu Liên đoàn Tin lành thế giới ủng hộ phá thai, ủng hộ “hôn nhân đồng tính”, để “kỷ niệm” cái gọi là cải cách do Martin Luther đưa ra.

Không thể tưởng tượng rằng một ĐGH sẽ đề cao việc tưởng nhớ tên điên này, kẻ dị giáo hoàng nhất trong lịch sử của Giáo Hội, kẻ đã phá vỡ sự hiệp nhất của Kitô giáo và mở đường cho bạo lực và đổ máu vô tận và sự sụp đổ của đạo đức khắp châu Âu. Khi Luther đã tuyên bố một cách phỉ báng: “Nếu tôi thành công trong việc phá hủy Thánh Lễ, thì tôi sẽ tin rằng tôi đã hoàn toàn chinh phục được ĐGH. Nếu tập tục phạm thánh và đáng ghét của Thánh Lễ bị lật đổ, thì mọi sự sẽ sụp đổ”. Thật vô cùng mỉa mai rằng kẻ dị giáo này cha lại có ý định tôn vinh với sự hiện diện của cha được thốt ra qua lời lẽ trong một bức thư gửi cho vua Henry VIII, kẻ đã dẫn dắt toàn nước Anh vào ly giáo vì giáo hoàng không phù hợp mong muốn của ông ta là ly dị và “tái hôn”, bao gồm quyền đón nhận các bí tích.

Chúng con phải phản đối cha

Vào thời điểm này trong nhiệm kỳ đầy biến động của cha là “Giám mục Roma”, thì người ta thật có lý do tranh luận rằng sự hiện diện của cha trên Ngai Tòa Thánh Phêrô là một mối nguy hiểm rõ ràng và hiện thời đối với Giáo Hội. Vì mối nguy hiểm đó, chúng con phải đặt câu hỏi:

Phải chăng cha không gặp rắc rối nào do các bê bối và sự nhầm lẫn mà lời nói và việc làm của cha đã gây ra liên quan đến sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội và giáo huấn của Giáo hội về đức tin và luân lý, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình và tình dục?

Liệu chưa từng xảy ra với cha rằng những hoan hô bất tận của thế giới cho “cuộc cách mạng Francis” chính xác là điềm xấu mà Chúa Giêsu đã ban lời cảnh báo?: “Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.(Lc 6:26) “.

Cha không thấy sợ sao về các chia rẽ mà cha đã gây ra trong Giáo Hội, cùng với một số giám mục xuất phát từ việc giảng dạy của những người tiền nhiệm của cha về chuyện ly dị và “tái hôn”, hoàn toàn là thẩm quyền có mục đích của cha, trong khi những người khác cố gắng để duy trì học thuyết và tập tục hai ngàn năm mà cha đã không ngừng ra công để lật đổ?

Cha không nghĩ gì về vô số những hiệp thông phạm thánh vốn sẽ là kết quả của việc cha cho phép những kẻ khách quan ngoại tình công khai và những người khác sống trong “tình huống bất thường” Rước Lễ, điều mà cha đã từng cho phép tung ra ồ ạt với cương vị là Tổng Giám mục Buenos Aires?

Cha thậm chí không nhận ra chuyện người ta đang sống ngoại tình Rước Lễ là một sự làm ô uế, một hành vi phạm tội trực tiếp chống lại “Thân thể của Chúa (Corintô 1. 11:29)” xứng đáng bị nguyền rủa cũng như một bê bối công khai vốn đe dọa đức tin của người khác, như cả hai Đức Benedict XVI và Đức Gioan Phaolô II đều cùng với tất cả những người tiền nhiệm của các ngài đã nhấn mạnh?

Cha có thực sự nghĩ rằng cha có quyền ra sắc lệnh những ngoại lệ “đầy thương xót” trong “một số trường hợp” để những giới luật luân lý được mặc khải Thánh phù hợp với quan điểm “hòa nhập” của cá nhân cha, quan điểm rõ ràng thân mật của cha về người ly hôn và sống chung chạ và quan niệm sai lầm của cha về những gì cha gọi là “bác ái mục vụ” trong lá thư của cha gửi cho các giám mục của Buenos Aires? Như thể không khoan dung nếu yêu cầu người ngoại tình và người phạm tội gian dâm ngừng quan hệ tình dục vô đạo đức của họ trước khi dự phần Tiệc Thánh Thể!

Cha không có sự tôn trọng nào trong việc giảng dạy trái với tất cả các vị Giáo Hoàng tiền nhiệm sao?

Cuối cùng, liệu cha không biết kính sợ Chúa và không sợ sự phán xét của Người, điều mà cha liên tục hạ thấp hoặc từ chối trong các bài giảng và các nhận xét tự phát của cha, thậm chí còn tuyên bố – hoàn toàn trái với Tín điều -rằng “Vị Mục Tử Nhân lành … không tìm kiếm để phán xét mà để yêu thương”?

Chúng con phải đồng ý với đánh giá của các nhà báo Công giáo nói trên đang quan tâm đến việc theo đuổi điên rồ của cha về việc cho người đang sống mối quan hệ tình dục vô đạo đức được Rước Lễ: “Toàn bộ sự việc này là quỷ quái. Không có lời nào khác hơn”. Tuy nhiên ngoài chuyện này, toàn bộ triều đại giáo hoàng kỳ lạ của cha đã gây ra một tình trạng mà Giáo Hội chưa từng thấy trước đây: Một người đang ngồi trên Ngai Tòa Phêrô có những nhận xét, những tuyên bố và quyết định thổi bay tính toàn vẹn của Giáo Hội chống lại điều mà các tín hữu phải liên tục bảo vệ chính mình. Như cùng một nhà văn kết luận: “Tôi nói điều này trong nỗi đau khổ, nhưng tôi sợ rằng phần còn lại của giáo triều này trong hiện tại đang được thuê bởi các ban nhóm bất đồng chính kiến, tính tội dị giáo của giáo hoàng, đe dọa – và – có lẽ hoàn toàn là cuộc ly giáo. Xin Chúa dủ lòng thương xót”.

Tuy nhiên, gần như toàn bộ hàng giáo sĩ hoặc bị buộc phải giữ im lặng hoặc đang vui mừng tán dương sự sụp đổ này. Nhưng cũng như trong cuộc khủng hoảng Arian lớn lao của thế kỷ thứ 4, khi mà, như Đức Hồng Y Newman nổi tiếng đã nhận xét:

Đám đông hàng giám mục đã không chung thủy với sứ vụ, trong khi đám đông giáo dân lại trung thành với lễ rửa tội; [Và] khi thì ĐGH, lúc thì Giám mục, Tổng Giám mục và những vị khác khác phần lớn thấy, lúc khác những hội đồng chung nói rằng những gì họ không nên nói hoặc làm, những gì gây khó hiểu và tổn hại sự thật được tiết lộ; mặt khác trong khi chính người Kitô hữu, do có sự lo trước, lại là sức mạnh của giáo hội ở Athanasius mà Hilary, Eusebius Vercellae, và các cha giải tội thật đơn độc khác sẽ thất bại nếu không có những Kitô hữu đó.

Nếu chúng con trung thành với phép rửa của chúng con và lời tuyên thệ của chúng con, chúng con là thành phần giáo dân, mặc dù là những người tội lỗi không xứng đáng, vẫn không thể giữ im lặng hoặc thụ động khi đối mặt với sự tàn phá của cha. Chúng con đang bị ép buộc bởi các mệnh lệnh của lương tâm để công khai buộc tội cha trước những tín hữu như chúng con theo yêu cầu của sự thật được tiết lộ, lề luật của Thiên Chúa và tự nhiên, và sự thiện hảo thông thường của giáo hội. Để nhắc lại giáo huấn của Thánh Thomas được trích dẫn ở trên, không có trường hợp ngoại lệ nào nói rằng một Giáo Hoàng nào đó không bị các con chiên của ngài lên án và khiển trách, thậm chí một cách công khai, khi có mối “nguy hiểm sắp xảy ra cho đức tin liên quan đến sự bê bối mà ngài gây ra”. Trái lại hoàn toàn, lý do tự chứng minh rằng, hơn bất kỳ vị giám mục nào khác, ĐGH phải được sửa sai, thậm chí bởi giáo dân của mình khi ngài “đi lạc khỏi con đường ngay thẳng”.

Chúng con biết rằng Giáo Hội không chỉ là tổ chức con người và rằng tính bất diệt của nó được đảm bảo bằng những lời hứa của Chúa Kitô. Các ĐGH sẽ qua đi, và Giáo Hội sẽ tồn tại ngay cả ngôi giáo hoàng này. Nhưng chúng con cũng biết rằng Thiên Chúa chiếu cố đến công việc thông qua các công cụ con người và vượt trên những điều cần thiết là phải cầu nguyện và sám hối, Người hy vọng từ các thành viên của hàng giáo phẩm, cả giáo sĩ và giáo dân, một đội binh của đức tin và luân lý chống lại các mối đe dọa từ bất kỳ ai, ngay cả có thể là một Giáo hoàng, như lịch sử Giáo Hội đã nhiều lần chứng minh.

Vì tình yêu của Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Giáo Hội, mà cha tuyên xưng tôn kính, chúng con kêu gọi cha phải từ bỏ các sai lầm và hủy bỏ tác hại to lớn mà cha đã gây ra cho Giáo Hội, cho các linh hồn, và cho sự báng bổ Tin Mừng của cha vì e rằng cha noi theo gương xấu của ĐGH Honorius, một người hỗ trợ và xúi giục lạc giáo đã bị hội đồng đại kết và người kế nhiệm của ngài lên án, và do đó tự cha chuốc lấy “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa toàn năng và của Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô”.

Nhưng xin cha hãy ngừng theo đuổi “ảo tưởng” của cha một cách phô trương ngạo mạn về một Giáo Hội nhiều “thương xót” hơn và hợp với Phúc Âm hơn so với Giáo hội do Đức Kitô thiết lập, mà cha đang tìm cách bẻ cong giáo lý và kỷ luật của Người theo ý muốn của cha, khiến các vị hồng y hối tiếc sai lầm khi bầu cha  qua lời long trọng tuyên thệ máu của họ và ít nhất ban hành một nhu cầu nào đó khiến cha đổi hướng hoặc từ bỏ danh phận mà họ đã không dự liệu giao phó cho cha.

Trong thời điểm này, chúng con có bổn phận phải chống lại các sai lầm của cha theo địa vị của chúng con trong Giáo Hội và khuyên những người Công Giáo như chúng con tham gia chống đối, sử dụng mọi phương tiện hợp pháp trong quyền hạn của chúng con để giảm thiểu những tác hại mà cha có vẻ quyết tâm gây ra cho Nhiệm Thể Chúa Kitô. Không có sự trông cậy nào khác, không có cánh cửa nào khác mở ra cho chúng con.

Xin Chúa thương xót chúng con, Hội Thánh của Người, và thương xót cha như thủ lĩnh trần thế của Giáo hội.

Lạy Mẹ Maria, xin giúp các Kitô hữu, xin cầu nguyện cho chúng con!

TC chuyển dich từ: http://remnantnewspaper.com/web/index.php/articles/item/2766-with-burning-concern-we-accuse-pope-francis#part1Anchor

Xin xem phần I ở đây và phần II ở đây