Hỗn loạn trong Giáo Hội Đức trong sự trỗi dậy của Hướng dẫn Mục vụ Mới

Viết bởi Maike Hickson ngày 3 tháng 2 năm 2017

Chỉ hai ngày sau khi chính thức công bố những hướng dẫn mục vụ mới liên quan đến hôn nhân, có vẻ là ở Đức dấy lên sự rối loạn. Mâu thuẫn, khó hiểu, và các tiếng nói báo động hiện nay được nghe từ mọi miền đất nước. Nhưng, trước hết, tài liệu này hóa ra là ngấm ngầm nguy hiểm hơn so với cái nhìn ban đầu. Bây giờ ngay cả chúng ta cũng thắc mắc về mức độ mà tự bản thân một người giáo dân bình thường cũng phải có thẩm quyền can thiệp vào trong Giáo Hội Công Giáo.

Như chúng tôi đã tường thuật hai ngày trước, các hướng dẫn ở Đức liên quan đến việc người ly dị “tái hôn” dường như ban đầu được ít tự do hóa hơn so với những hướng dẫn của người Malta – cái mà Tiến sĩ Edward Peters (luật sư giáo luật) sau đó đã mô tả nó như là ”tai họa của người Malta”. Tuy nhiên như tôi sau đó đã đề cập nó, vào lúc đó người Đức đã khá gần với tiêu chuẩn của người Malta. Nghĩa là biểu hiện của người Đức cho thấy “quyết định [của người ly dị ” tái hôn”] để nhận các bí tích phải được tôn trọng” đã gần với tuyên bố của người Malta rằng người “tái hôn” có thể Rước lễ nếu họ cảm thấy “hòa giải với Thiên Chúa”. Trong cả hai trường hợp, điều chủ yếu và thiên về lương nhiều hơn được nhấn mạnh ở đây và được coi là điều chính yếu trong việc cân nhắc để đưa ra quyết định.

Ví dụ, đây là những gì Đức Tổng Giám mục Heiner Koch ở Berlin vừa mới đây cho biết liên quan đến vấn đề lương tâm: “Chúng tôi [giám mục Đức] viết rằng – trong những trường hợp cá nhân được biện minh và sau một quá trình lâu dài hơn – có thể có một quyết định thuộc lương tâm ở phía bên người tín hữu nhận lãnh các Bí tích, một quyết định mà phải được tôn trọng”. Khi được hỏi lý do tại sao các giám mục Đức – trong sự tương phản đối với các hướng dẫn thuộc phạm vi giám mục khác lại thận trọng hơn – còn bây giờ thì đã ” quyết định trình ra cho toàn thế giới biết [về chuyện đối với những người ly dị “tái hôn”], điều mà khiến cho lương tâm của một người thành tiêu chuẩn”, [tôi nhấn mạnh] ĐTGM Koch trả lời một cách cứng rắn: “Bởi vì chúng tôi tin chắc rằng đây là ý định – theo như từ ngữ cũng như trong tinh thần – cái mà chính ĐGH Phanxicô mong muốn và cần, và đó là điều chúng tôi đưa ra để cùng song hành với ngài “.[tôi nhấn mạnh]

Do đó, rõ ràng rằng các hướng dẫn mục vụ của Đức đang ngày càng là vấn đề đáng lo ngại do giọng điệu mà giờ đây được đặt trên lương tâm cá nhân – nếu không hoàn toàn đặt trên một lương tâm chủ quan vô định.

Những gì chúng ta thực sự hoặc phần nào bỏ qua cho đến nay là một thực tế rằng các giám mục Đức giờ đây không còn nói một cách rõ ràng hơn về những việc làm của các linh mục được thụ phong liên quan đến “con đường sáng suốt” mà vì lẽ đó bản thân các ứng viên “tái hôn” giờ đây có thể sẵn sàng quả quyết.

Ví dụ, trong toàn bộ hướng dẫn mục vụ, chỉ có những từ “mục vụ” và “người chăm sóc mục vụ” (không có định nghĩa gì thêm) hiện nay đang được sử dụng; từ “mục tử” hay “linh mục” chẳng được tìm thấy nơi nào. Các hậu quả nghiêm trọng của hiện tượng ngôn ngữ này là, ít nhất là ở Đức, hiện nay hàng giáo dân (nam và nữ) có thể chính thức “đồng hành” với người “tái hôn” trong sự phân định của họ để xem liệu họ có thể có quyền nhận lãnh các bí tích hay không. Vấn đề này chỉ khiến tôi chú ý đến qua một cuộc phỏng vấn được công bố ngày hôm qua trên chính trang web Kathol isch.de của các Giám Mục ở Đức. Trong cuộc phỏng vấn này, Ute Eberl, một nữ giáo dân làm việc trong lĩnh vực chăm sóc mục vụ cho Giáo Phận Berlin, bình luận về những hướng dẫn mục vụ mới của Đức và rõ ràng ca ngợi một thực tế rằng người đồng hành giờ đây có thể là một giáo dân. Eberl giải thích:

Trước hết, tôi thật mãn nguyện. Tôi nghĩ rằng thực sự tuyệt vời khi các giám mục đưa chú thích “người tái hôn” vào văn bản chính và nói: quyết định của lương tâm phải được tôn trọng. Do đó tôi hy vọng rằng những tranh cãi sẽ có một kết thúc. Lời khuyên hãy tiếp xúc với một người chăm sóc mục vụ là tuyệt vời. Tiếp đến là một linh mục, đầu tiên vị này cũng có thể là một người gần gũi, đồng hành với một người nào đó một cách dè chừng, nhưng sau đó cũng vui mừng về mối quan hệ mới. Bức thư giám mục [các hướng dẫn mới], do đó, không phải là một cách hạn chế người giáo dân đối với một trật tự mới về quy tắc và cách cư xử, nhưng thổi vào một hơi thở tự do tuyệt vời. [Tôi nhấn mạnh]

Sau khi đọc toàn bộ cuộc phỏng vấn này, tôi đã liên lạc với văn phòng báo chí của Hội đồng Giám mục Đức “, yêu cầu làm rõ hơn nữa khi ai đó sẽ là người chính thức đồng hành với người “tái hôn”. Sau đây tôi cũng trích dẫn một đoạn các hướng dẫn mới ở Đức: “Tông huấn Amoris Laetitia nói về một quá trình đi đến quyết định [về việc tiếp nhận cả Bí tích Hòa Giải và Bí tích Thánh Thể] vốn được đi kèm bởi một người chăm sóc mục vụ.” [tôi nhấn mạnh] Với câu hỏi là liệu điều này có nghĩa rằng có thể có một người không phải là linh mục sẽ có quyền đồng hành với người ly dị “tái hôn”, hôm nay tôi nhận được câu trả lời sau đó từ Tiến sĩ Michael Feil về Hội đồng Giám mục Đức – và đây là tất cả những lời giải thích mà tôi nhận được:

Đối với một định nghĩa xa hơn về khái niệm “người chăm sóc mục vụ” trong bối cảnh này, ta có thể xem Giáo luật 519 CIC [ liên kết của quy tắc Giáo Luật này của Giáo hội Công giáo được cung cấp bởi MH]: Linh Mục chánh xứ (parochus) là vị mục tử thích hợp của giáo xứ được ủy thác để thực hiện việc chăm sóc mục vụ của cộng đoàn vốn đã được ký thác cho ngài dưới thẩm quyền của giám mục giáo phận – người có quyền của Đức Kitô. Vị Linh Mục này đã được kêu gọi để chia sẻ, để rồi cũng nơi cộng đoàn đó, ngài sẽ thực hiện các chức năng giảng dạy, thánh hóa, và cai quản, cũng với sự hợp tác của các linh mục hay phó tế khác và với sự giúp đỡ của các thành viên giáo dân của các tín hữu Kitô giáo, theo các chuẩn mực của lề luật. [Tôi nhấn mạnh]

Cho đến nay, tôi chưa một lần nào nữa nghe phản hồi từ Tiến sĩ Feil, cụ thể là sau khi tôi viết thư cho ông ta lần thứ hai, yêu cầu ông xác nhận rằng hiện điều này có nghĩa thực sự là giáo dân cũng có thể được phép đồng hành với người “tái hôn” trong sự phân định của họ cho dù họ có thể nhận các bí tích hay không; và liệu các giám mục Đức giờ đây cũng nói rằng các linh mục địa phương phải tôn trọng trong mọi trường hợp mà quyết định của lương tâm của cá nhân của người “tái hôn” có liên quan đến việc tiếp nhận Mình Thánh Chúa.

Hơn nữa, một vấn đề khác trong câu hỏi cũng vẫn còn phần nào chưa rõ ràng, cụ thể là: điều này có ý nghĩa gì liên quan đến việc tiếp nhận Bí Tích Hòa Giải? Như vậy liệu sẽ có một giáo dân tư vấn cho một người “tái hôn” và do đó sẽ được tham gia vào các quyết định về việc liệu rằng người khác giờ đây cũng có thể được tha tội trong tòa giải tội? Giáo dân hiện nay sẽ có thẩm quyền trong Giáo Hội đến mức độ nào? Sau hết, các giám mục Đức nói về “người chăm sóc mục vụ” nói chung khi nhắc đến một cách rõ ràng các quyền được phép nhận lãnh cả hai Bí Tích Hòa Giải và Bí Tích Thánh Thể.

Hôm qua chính Tiến sĩ Peters đã đưa ra trong bài bình luận của mình về các hướng dẫn ở Đức một câu hỏi tương tự và có liên quan, cụ thể là:

Còn nữa, những đoạn khác trong các tài liệu của Đức đều ngụ ý rằng bí tích hòa giải cũng có thể được lãnh nhận trong những trường hợp này [của người ly dị và “tái hôn”], nhưng dường như không yêu cầu nơi người đền tội một ”mục đích chắc chắn sửa đổi” (thậm chí liên quan đến hoạt động tình dục tự nguyện đối với một người không phải là người phối ngẫu). Như tôi đã lưu ý ở HPR một vài năm trở lại đây, sự tiếp cận này cho thấy việc cử hành Bí Tích Hòa Giải có nguy cơ phạm thánh và linh mục giải tội bị mang tội đồng lõa.

Do đó ở đây tiến sĩ Peters chỉ ra sự nguy hiểm của các linh mục đang bị một áp lực – dưới một tài tội hay không tội hệ tại ở lương tâm của người “tái hôn” – đẩy các linh mục vào việc tha tội cho một kẻ ngoại tình không chịu ăn năn, điều mà sẽ đặt thiên chức linh mục của các ngài vào chỗ nguy hiểm – theo giáo luật! Do đó chúng tôi tha thiết đề nghị các độc giả của chúng tôi hãy nghiên cứu về phân tích của Tiến sĩ Peters hồi năm 2011 về Giáo luật (Canon )1387 (xem liên kết trong trích dẫn của tiến sĩ Peters), trong đó nói rằng một linh mục sẽ bị trừng phạt nếu “khuyến khích một hối nhân vi phạm điều răn thứ sáu”, trong khi hoặc sau khi giải tội là phải bị phạt. Lời mời gọi này, theo tiến sĩ Peters, cũng có thể có nghĩa là một linh mục có thể dẫn dắt không đúng cách và khuyến khích một hối nhân vi phạm điều răn thứ Sáu với bất kỳ người trung gian thứ ba nào khác, và không chỉ với bản thân người đó. Sau khi chính mình nhận được một tài liệu tham khảo về vấn đề này từ một luật sư giáo luật tư vấn khác, chúng tôi gần đây đã chỉ ra tình hình phát triển nguy hiểm này cụ thể liên quan đến tông huấn Amoris Laetitia.

Nếu trong cùng vấn đề này của một bí tích – như hiện các giám mục Đức gây ra – đã đủ khó hiểu, thì những phản ứng đối với các hướng dẫn mới về mục vụ ở Đức thậm chí còn tệ hơn như vậy nhiều. Ví dụ, ngày hôm nay, trang web Katholisch.de của các giám mục Đức đăng tải một cuộc phỏng vấn với Đức Giám mục Konrad Zdarsa của Giáo phận Augsburg. Vị Giám mục này đã tự mình nhầm lẫn một cách công khai và không lẫn đi đâu được, và không thể trả lời công khai thậm chí rõ ràng câu hỏi là liệu những người ly dị “tái hôn” giờ đây có thể rước lễ tại Đức hay không. Ngài nhấn mạnh rằng bây giờ người ta có thể cần làm rõ thêm cái tài liệu đó ở Đức! [tôi nhấn mạnh] chính vị Giám mục này nói “Ở đây chúng tôi một lần nữa đang cần một ai đó đến và giải thích cho chúng tôi [giám mục Đức] về tài liệu này”, sau khi ngài được hỏi cụ thể về các câu hỏi của người ly dị “tái hôn” và liệu “tất cả mọi người giờ đây có thể làm những việc như ngài mong muốn không”

Hơn nữa ĐGM Zdarsa nhận thấy rằng giờ đây người ta cần nhiều hơn là một sự “chăm sóc mục vụ chu đáo” dành cho những người có rắc rối trong hôn nhân. Ông thấy rằng “chúng tôi [giám mục] lúc này đã đưa ra một trách nhiệm to lớn [cho những linh mục chánh xứ địa phương] chứ không phải ai cũng có thể xử lý nó và chịu đựng nó trong sự cân nhắc tương tự”. Vị Giám mục Đức này sau đó hỏi một câu hỏi xuyên thấu: Nếu một linh mục thậm chí không có thời gian cho một sự chuẩn bị kỹ lưỡng dành cho giới trẻ và các cặp vợ chồng kết hôn trong tương lai, “thì còn đâu thời gian, sức mạnh và sự kiên nhẫn” để gia nhập vào quá trình nhận định kỹ lưỡng này, “như ĐGH yêu cầu”? Trong bối cảnh này, Đức Giám mục Zdarsa sợ rằng sẽ có “quyết định sớm” ( “Schnellschüsse”), “hoặc là sẽ có nguyên nhân mâu thuẫn khác có thể chưa được tiên liệu đầy đủ.” [Tôi nhấn mạnh]

Đức Zdarsa cũng đặt ra câu hỏi liệu, nói chung, người Đức ly dị “tái hôn” sau cùng thậm chí sẽ tìm kiếm sự tư vấn của các linh mục, bởi vì “số người ở giữa chúng ta thường xuyên tới tòa giải tội thật là ít ỏi”. Đối với các câu hỏi lương tâm cá nhân, Đức Giám mục Zdarsa với nét mặt đau đớn nói rằng một người lần đầu tiên đã bắt đầu với “sự hình thành của lương tâm” thì sau đó sẽ thừa nhận rằng nhiều người ở Đức đã bị lãng quên trong vấn đề này. ĐGM cho biết thêm “Chúng tôi không thảo luận về câu hỏi này về sự hình thành của lương tâm”. Sau khi chỉ ra tầm quan trọng của việc định hướng cuộc sống con người theo những lề luật của Thiên Chúa, vị giám mục này – vốn cũng từng lớn lên ở Đông Đức và là người đã phải chịu đau khổ dưới chế độ Cộng sản – trả lời cho những câu hỏi hoa mỹ “Vì vậy, vẫn sẽ gặp khó khăn?” Với một tâm trạng nặng nề, ngài nói: “vâng”. Nó gần như rõ ràng biết bao nhiêu vị giám mục này bị bao vây dưới sự nhầm lẫn hiện tại và rối loạn.

Tuy nhiên, ĐGM Zdarsa không phải là người duy nhất trong giáo hội chân thành thể hiện những hạn chế của ngài về các hướng dẫn mục vụ mới được ban hành (vốn chưa được sự chấp thuận của tất cả các giám mục Đức một cách cá nhân, nhưng đúng hơn chỉ bởi Đại Hội đồng của Hội đồng Giám mục Đức ngồi đó được lựa chọn ủy quyền từ tất cả các giáo phận ở Đức, mỗi giáo phận một vị). Ví dụ, trên tạp chí tiến bộ của Đức, tờ Der Spiegel, đăng tải một bài báo ngày hôm nay có tiêu đề : “Các Linh mục Bảo thủ đang loại bỏ sáng kiến của Hội đồng Giám mục Đức ‘”.  Bài báo đăng tải:

Các đại diện của Mạng lưới linh mục Công giáo ( “Netzwerk katholischer Priester”), của German Opus Dei, của Legionnaires of Christ và của các nhóm chính thống khác nói về “các chia rẽ trong các giáo xứ” và về một “sự mù mờ về Bí Tích Hôn phối”.

Cũng quan trọng lưu ý trong bối cảnh này mà một luật sư giáo luật người Đức, Cha Gero P. Weishaupt, hôm nay mới đăng một bình luận trên facebook của Mathias von Gersdorff, mô tả sự gia tăng hỗn loạn ở Đức: ” Giờ đây hỗn loạn ngự trị, đặc biệt là giữa các giám mục. Hồng y của Cologne [Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki] cho biết ngày hôm qua […] rằng ngài tránh khỏi một sự ly giáo. ĐGH sẽ không thể tránh được việc phải làm rõ vấn đề này. “[Tôi nhấn mạnh]

Ở đây cũng nên đáng giá để xem xét những ý kiến được tăng tải bởi chính nhà bình luận Công giáo Đức, Mathias von Gersdorff. Ông viết về một bài viết ngày 02 Tháng 2 được công bố bởi tờ báo Đức nổi tiếng – tờ  Frankfurter Allgemeine Zeitung (FAZ), vốn giờ đây thậm chí còn tuyên bố – liên quan đến các quy định mới cho người ly dị “tái hôn” – như sau: “Tất cả các hội nghị giám mục khác trên thế giới hiện nay sẽ phải tự hỏi chính mình với lập luận là họ sẽ dựa vào câu hỏi nào để hỏi ĐGH để rồi từ đó từ chối tỏ lòng trung thành với ngài “[tôi nhấn mạnh] .Von Gersdorff nhận xét dựa trên trích dẫn tinh tế này với những điều sau đây, những lời nói khá vui tươi:”Đây là thời mới: tất cả mọi người, các giám mục Đức hiện đang có mô hình mới cho lòng trung thành với ĐGH! “[tôi nhấn mạnh]

Như von Gersdorff cũng cho biết, FAZ Đức miêu tả và trình bày những ba vị giám mục, Walter Kasper, Karl Lehmann, và Oskar Saier – những người, lần đầu tiên vào năm 1993, đẩy mạnh trong giáo phận của mình việc cho phép người “tái hôn “rước lễ –  là nạn nhân dũng cảm cuối cùng đã được chứng minh.

FAZ nói “Trong năm qua, với tài liệu của mình Amoris Laetitia, ĐGH Francis hiện ôm lầy những hiểu biết của ba vị [trước đây bất đồng] giám mục,” [tôi nhấn mạnh]. Với những lời này, von Gersdorff trớ trêu bình luận: “Sau một thời gian dài đau khổ – gần 25 năm – những điều đeo đuổi trở nên rõ ràng: sau hết những người trung thành thực sự của ĐGH là người Đức! Ngay sau khi Đức Hồng Y Kasper chết, Daniel Deckers [nhà báo FAZ] có lẽ hầu như sẽ đề nghị phong thánh cho ngài. “[Tôi nhấn mạnh]

Hiện nay thế giới thường xuyên dường như đủ đảo lộn. Những người bất đồng chính kiến trước đó giờ đây là những người trung thành với Giáo Hoàng, và người Công giáo chính thống là những người không cam chịu và là kẻ ngoan cố bất đồng chính kiến.

Sự hỗn loạn ở Đức hiện đang gia tăng quá rõ – cũng như là trường hợp trong Giáo Hội lớn hơn.

TC chuyển dịch từ: onepeterfive