Bốn năm sau: Những phản ánh về một ngôi vị giáo hoàng chưa từng có

Viết bởi Steve Skojec ngày 11 tháng 3 năm 2017

Vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, tôi ngồi trong văn phòng của mình và xem truyền hình khi một vị giáo hoàng mới – một người đàn ông mà tôi chưa bao giờ thấy trước đó – đã bước ra khỏi mật viện của Vương cung Thánh đường Phêrô. Tôi chưa bao giờ nghe nói về ngài. Tôi thậm chí không biết tên của ngài. Giống như hầu hết người Công giáo, tôi đã tiếp cận cuộc hội kiến giáo hoàng với một cảm giác hy vọng đầy hy vọng. Nhưng cảm giác đã đến với tôi khi tôi nhìn thấy người đàn ông mà các hồng y đã chọn làm cho tôi có một cảm giác ngột ngạt đáng kinh ngạc. Đó là một cảm giác sợ hãi lạnh giá. Khi tôi nhìn ngài, đang đứng đó, nhìn chằm chằm vào đám đông, tôi nghe bảy từ rõ ràng trong tâm trí tôi phát ra cách tự nhiên: “Người này không quen với Truyền thống” (This man is no friend of Tradition).

Đó là một câu kỳ lạ. Kỳ quặc. Tôi biết, chắc chắn là người ta biết rằng tiếng nói của một người đang nói chuyện với họ trong một căn phòng yên tĩnh không phải là của họ, đó không phải là suy nghĩ của tôi, mà là một vài gợi ý bên ngoài. Không thể nào tôi thậm chí có thể đánh giá như vậy, vì tôi chẳng biết gì về người đàn ông này, hồng y người Argentinian này, Jorge Bergoglio.

Tôi hoàn toàn quên lãng những chi tiết vụn vặt về trang phục hay phong tục giáo hội. Vì thế, tôi không thể khẳng định rằng cảm giác của tôi bắt nguồn từ sự tuân thủ một số sai lệch rõ ràng từ các nghi lễ của một cuộc bầu cử giáo hoàng . Tôi không nhận thấy, ví dụ như ngài đã chọn không mặc bộ mozetta của giáo hoàng. Tôi đã không bị phiền lòng bởi cách chào đón bất thường của ngài đối với đám đông bằng một câu nói “buổi tối tốt lành”, thay vì một câu gì đó sâu sắc hơn mang tính tâm linh. Tôi không thể nói rằng tôi nhớ được điều tôi đã nghe thấy, trong những khoảnh khắc đó, rằng ngài là một tu sĩ dòng Tên. Thực ra, tôi rất có thể không nhận thấy những điều này ngay cả trong những hoàn cảnh bình thường, nhưng đây không phải là hoàn cảnh bình thường. Ấn tượng của tôi về người đàn ông đó là điều gì đó đã xảy ra ở mức độ nội tâm. Và cảm giác rất mạnh, nó đã làm phân tâm tôi khỏi mọi điều khác.

Có một điều gì đó trên khuôn mặt ngài. Trong cách ngài nhìn chằm chằm vào đám đông đang tụ tập. Có gì đó … không ổn trong ánh mắt của ngài. Những gì tôi nhìn thấy – những gì tôi nghĩ tôi thấy – là cái gì khác, nhìn ra qua mặt nạ không thể đọc được. Một ánh nhìn đắc thắng, ngạo mạn, khinh miệt, lén lút cuối cùng toát ra từ đỉnh cao của một trận chiến lâu dài và đầy cam go. Thật kỳ lạ.

Khi tôi nhìn lại bức ảnh của thời điểm đó, tôi có thể thấy rằng không có biểu hiện rõ ràng trên khuôn mặt của ngài. Tôi nghĩ những gì tôi nhìn thấy không phải là cái gì đó thuộc thể chất mà nghiêng nhiều hơn về một cái nhìn sâu sắc về tinh thần. Nó tấn công tôi, có nguy cơ nghe như cường điệu hóa, như một kinh nghiệm bất thường. Tôi đã rất băn khoăn, tôi đã phải chiến đấu với một đợt sóng buồn nôn.

Tôi đã ám chỉ những điều này vài tháng sau đó, khi tôi lần đầu tiên bắt đầu, sau khi cố gắng rất nhiều để trao cho ĐGH Francis một quyền nghi ngờ, để viết về lý do tại sao chức vụ giáo hoàng của ngài đã đầy các dấu hiệu cảnh báo. Lúc đó, tôi đã bị một số người lăng mạ, như thể đây chỉ là một chút tưởng tượng tôi đã gợi lên (vì lý do gì tôi muốn làm một điều như vậy, tôi không thể hy vọng giải thích). Nhưng tôi đã nghe từ vô số người có cùng phản ứng ban đầu rất kỳ lạ và bất ngờ. Từ giây phút đầu tiên, mặc dù tôi đã cố gắng để lột bỏ những ấn tượng đó sang một bên để cho lý trí chiếm ưu thế, tôi biết, cũng như nhiều người Công giáo khác cũng có những gì tôi từng nghĩ đến như một ân sủng tín hiệu. Một lời cảnh báo từ Thiên Chúa: đây sẽ là một hậu quả tồi tệ.

Bốn năm sau, tôi vững vàng trong sự hiểu biết đó. Không phải qua sự tồn tại của một cảm giác, mà là một sự vượt trội của bằng chứng. Nếu năm 2016 là điểm xuất phát, năm 2017 là năm đập phá. Amoris Laetitia đã nâng tầm quan trọng của cuộc chiến dành lấy linh hồn của Giáo hội lên đến mức mà ngay cả những người vững tin nhất vào quyền hạn giáo hoàng – những người trung thực nhất – giờ đây buộc phải thừa nhận rằng chúng ta đang phải đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng. Nếu có một điều gì đó quan trọng như một tông huấn tông truyền có tính cách dị giáo vốn vây hãm các bí tích đến mức báo động, thì cũng có vô số những ví dụ về ý kiến trái chiều ít được công bố kể từ đêm định mệnh đó cách đây bốn năm rằng người ta nên loại bỏ mọi nghi ngờ về mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng. Những nỗ lực của chúng tôi để ghi lại những điều này ở đây, mặc dù không đầy đủ, đã kéo dài hàng trăm trang. Nó vượt quá phạm vi của một bài viết để cố gắng tóm tắt toàn diện những khoảnh khắc đáng lo ngại trong bốn năm qua, mặc dù chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra một số sự kiện đáng nhớ hơn như vậy ở bên dưới cho người đọc chú ý. Một cách thẳng thắn mà nói, nó đã vượt quá khả năng của con người để tạo ra nhiều nhầm lẫn và biến dạng trong một thời gian ngắn như vậy. Và có lẽ nó là thế. Sau hết, ma quỷ không phải là một sinh vật của bạo lực, nhưng một bậc thầy của tinh tế và quyến rũ, chỉ quá hạnh phúc khi sử dụng thành thạo các công cụ sẵn có.

Bất kể xuất xứ của cuộc nổi loạn này nội trong cốt lõi và xuất phát từ người đứng đầu của Giáo hội, chúng ta thấy mình đang ở trong một giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. Đối với những ai vẫn chưa được thuyết phục, có lẽ không có bằng chứng nào có thể thay đổi điều đó. Các bên đã rõ ràng. Ranh giới chiến trường đã được vạnh ra. Giai đoạn ban đầu của cuộc chiến đã quyết định.

Sự leo thang của một chương trình nghị sự

Một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất của sự tiết lộ trong triều đại của đức Francis đã diễn ra trong một cuộc phỏng vấn với một người bạn thân thiết và là một người viết mướn của ĐGH tên là Victor Manuel Fernández vào tháng 5 năm 2015:

“ĐGH tiến hành mọi thứ từ từ chậm rãi vì ngài muốn chắc chắn rằng những thay đổi này có tác động sâu sắc. Nhịp độ chậm là điều cần thiết để đảm bảo hiệu quả của những thay đổi ngài đưa ra. Ngài biết có những người hy vọng rằng ĐGH kế tiếp sẽ đảo ngược mọi thứ. Nếu chúng ta thay đổi một cách chậm rãi thì sẽ khó khăn hơn để biến mọi thứ trở lại”. Người phỏng vấn sau đó đã hỏi ngài xem liệu điều đó không giúp ích gì cho những kẻ thù của ngài sao khi họ biết rằng ĐGH Francis nói rằng chức vụ lãnh đạo của ngài có thể là ngắn ngủi. Fernández trả lời: “ĐGH phải có lý do của mình, bởi vì ngài biết rất rõ mình đang làm gì. Ngài phải có một mục tiêu mà chúng ta chưa hiểu. Quý vị phải nhận ra rằng ngài đang hướng tới cải cách mà không thể đảo ngược được. Nếu một ngày nào đó ngài cảm thấy mình đã hết thời gian và không có đủ thời gian để làm những gì mà Thần Khí đang đòi hỏi, quý vị có thể chắc chắn ngài sẽ tăng tốc độ. [Nhấn mạnh thêm]

Những nhận xét này, được đưa ra gần hai năm trước, đã cho một cái nhìn thoáng qua về chiến lược đã thúc đẩy chương trình nghị sự cho đến nay. “Cải cách không thể đảo ngược được” chính nó là một chủ đề đã được lặp lại bởi các cộng sự viên gần gũi khác của giáo hoàng. ĐHY Oscar Andres Maradiaga Rodriguez đã dùng chính xác những từ này vào tháng Giêng năm 2015. Họ đã nói với chúng ta ý định của họ. Nhiều người chỉ đơn giản là không muốn tin những gì các cộng sự đó muốn nói. Cái mà “sự cải cách không thể đảo ngược” này chẳng khác gì sự bóp méo giáo lý cách nghiêm trọng và cố ý, cách tiếp cận dị giáo đối với sự hiểu biết của người Công giáo về tội lỗi và các bí tích, sự phá vỡ các cấu trúc hiện tại, các quy tắc, ranh giới và các thể chế, và khiến cho nhầm lẫn đó di căn trong Cơ thể Mầu nhiệm của Chúa Kitô với hậu quả vĩnh cửu đối với các linh hồn.

Một người bị buộc phải tự hỏi: nếu bản thân Satan chế tạo một cuộc tấn công từ bên trong Giáo Hội, nó sẽ khác biệt ra sao so với những gì chúng ta đang trải nghiệm hôm nay?

Cách đây hai năm, vào thời điểm phỏng vấn, ĐTGM Fernández đã nói về phản ứng tích cực của công chúng đối với chương trình nghị sự của đức Francis:

ĐGH đầu tiên đã làm cho quảng trường của Thánh Phêrô trở nên đông đảo rồi sau đó bắt đầu thay đổi Giáo Hội”. Khi được hỏi liệu ĐGH có bị cô lập tại Vatican, ngài đáp lại:” Không có gì. Dân chúng ở với ngài [ĐGH Francis Francis], chứ không phải với những kẻ thù của ngài”.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, mọi thứ đã bắt đầu thay đổi. Đến năm 2015, đám đông của giáo hoàng bắt đầu giảm dần về quy mô. Và ít nhất khi ở đây, ở Mỹ, ngài đã tỏ ra chuyển hướng về các vấn đề như biến đổi khí hậu và cảm giác tự do dễ thương đối với đạo Công giáo, không có bằng chứng cho thấy ngài kêu gọi người ta gia nhập vào Giáo hội. Đặc biệt lớp trẻ của thế hệ năm 2000 tiếp tục trôi đi, ngay cả khi họ bày tỏ tình cảm đối với cách tiếp cận tự do hoá của giáo hoàng đối với giáo lý. Và cuộc sống tôn giáo – không lành mạnh bởi bất kỳ mực thước nào trước cuộc bầu cử của đức Francis – dường như thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Chính ĐGH đã than thở sự “xuất huyết” của các linh mục và nữ tu từ Giáo hội, nhưng dường như hoàn toàn không ý thức về vai trò của chính mình trong sự ra đi của họ – một thành tích theo sau ngài từ quê hương Argentina. Như cha Linus Clovis của Family Life International cho biết tại một cuộc họp vào năm 2015:

Ảnh hưởng của đức Francis là sự giải giáp và im lặng của các giám mục, linh mục và giáo dân Công giáo. Giữ vững giáo huấn và thực hành Công giáo dường như là một hành động không trung thành với ĐGH, nhưng phải chấp nhận là phản bội Giáo Hội.

Trong một bài diễn văn tại New York Times vào tháng 9 năm ngoái, Matthew Schmitz đã tiếp tục nhiều điều hơn nữa:

[Đức Francis] mô tả các linh mục giáo xứ là “những con quỷ nhỏ”, những người “ném đá” vào các tội nhân nghèo. Ngài đã gán cho các quan chức giáo triều một chẩn đoán là bị ”Tâm thần phân liệt nơi tinh thần”. Ngài  mắng những nhà hoạt động phò sự sống vì “nỗi ám ảnh” của họ với chuyện phá thai. Ngài nói rằng những người Công Giáo tập trung vào việc tham dự Thánh Lễ, thường xuyên xưng tội, và nói rằng những lời cầu nguyện truyền thống là người “Pelagians” – những người tin tưởng, một cách kỳ dị rằng họ có thể được cứu bởi những công việc của họ.

Những lời tố cáo như vậy làm mất nhân cách những người Công giáo trung tín mà không trao cho họ cho bất kỳ lý do nào trở lại. Tại sao lại tham gia vào một giáo hội có linh mục là qủy nhỏ và có các thành viên thích ném đá? Khi chính ĐGH nhấn mạnh đến các trạng thái thiêng liêng nội tâm trong việc tuân giữ nghi lễ, không có lý do gì để xếp hàng giải tội hay thức dậy để đi Lễ cả.

Schmitz kết luận “Đức Francis đã xây dựng được sự nổi tiếng của mình bằng cái giá của Giáo Hội mà ngài lãnh đạo”. Và có vẻ như bây giờ, nơi chứa đựng những điều tốt đẹp sẽ bị hao mòn, đây là một thực tế đã bắt kịp ngài.

Với nhiều năm gia tăng sự phản kháng đã lan rộng từ những mối quan tâm rải rác của một số giáo dân quan tâm đến các vị cao nhất của Giáo hội, tình hình trên mặt đất vào năm 2017  khác nhau rõ rệt so với năm 2015. Đức Francis không còn là ” Hơi thở của không khí trong lành ” như ngài đã từng được cho là như vậy. Thay vào đó, bài diễn văn liều lĩnh của ngài trong một chuỗi các cuộc phỏng vấn và phát biểu liên tục liên quan đến tín hữu. Sự mắng nhiếc liên tục của ngài về những người chỉ đơn giản là cố gắng sống theo đạo Công giáo mà họ sùng mộ kết hợp với một nguồn lực đổi mới dường như vô tận, sự tự mâu thuẫn và sự thay đổi đang thúc đẩy người ta cố gắng lánh xa ý kiến của ngài. Ngay cả một số các nhà bình luận công giáo kiên nhẫn nhất cuối cùng cũng đã đi đến kết luận không thể tránh được rằng chức vị giáo hoàng này được mô tả hợp lý nhất bằng từ “thảm khốc”.

Một sự thay đổi trong chiến lược:

Với giai đoạn “dân túy” của vị trí giáo hoàng này hiện đang rút khỏi quan điểm, đã có một sự thay đổi tinh tế trong chiến lược truyền thông từ Vatican vốn không là gì nếu không toan tính. Số nhà phê bình về giáo hoàng này, đôi khi, đã tăng lên đáng kể. Những nỗ lực của họ để chống lại những sai sót về thể chế này, được củng cố như những người tín hữu, đã trở nên gần như không ngừng nghỉ như chương trình nghị sự của giáo hoàng vậy. Sự thúc đẩy chống lại Amoris Laetitia đã bao gồm những phản ứng mạnh mẽ từ khắp các tầng lớp giáo sĩ và giáo sĩ trong Giáo Hội. Các nghi ngờ mang tính thần học được công bố bởi bốn Hồng Y đáng chú ý đang nêu lên thắc mắc rằng nơi ĐGH đang dựa vào Giáo huấn truyền thống Công Giáo là lời đáp trả có thẩm quyền nhất, nhưng những phê bình mang tính thần học này – bị 45 nhà thần học, các nhà nghiên cứu và các linh mục đe dọa chống lại Tông huấn – thậm chí lại là một sự bác bỏ về mặt thần học. Những nhà Công giáo nổi tiếng như Josef Seifert, Jude Dougherty, và Robert Spaeman đã thêm tiếng nói đáng kể của họ vào đoạn điệp khúc đang gia tăng. Những làn gió một lần dễ dàng bị quét qua một bên bởi bộ máy Vatican đang bắt đầu hạ cánh và gây nhức nhối. Các nhà thúc đẩy giáo hoàng trong các lĩnh vực truyền thông như Andrea Tornielli, Fr. Antonio Spadaro và Austen Ivereigh đã đáp lại bằng cách vung vẩy, hy vọng đẩy những ai đang từ chối vào việc phớt lờ người đàn ông thực sự đằng sau bức màn giáo hoàng này ngay tại chỗ của họ.

Một ví dụ cụ thể hơn về những điều đã xảy ra để chống lại cuộc nổi dậy đã được tìm thấy trong sự xuất hiện của những áp phích xuất hiện qua đêm ở Rôma gần đây. Tại The Spectator, Damian Thompson kể lại cảnh tượng:

Vào ngày thứ bảy đầu tiên của tháng hai, dân Rome đã thức dậy và nhận ra thành phố được bao bọc bởi những áp phích đặc biệt miêu tả một vị giáo hoàng cau có. Bên dưới có những chữ:

Hỡi Francis, ngài đã can thiệp vào các Tu Hội, thuyên chuyển các linh mục, tước bỏ Trật tự của Malta và các Dòng Phanxicô Vô Nhiễm, phớt lờ các Hồng Y … nhưng đâu là lòng thương xót của Ngài?

Sự ám chỉ đến lòng thương xót là một lời nói dối mà bất kỳ người Công giáo nào cũng có thể hiểu được. Đức Francis vừa mới kết thúc ‘Năm Thương xót’, trong đó giáo hội đã được hướng dẫn để tiếp cận với những kẻ tội lỗi trong tinh thần tha thứ triệt để. Nhưng nó cũng là năm mà vị giáo hoàng người Argentina tiếp tục chính sách của ngài nhằm trấn áp các nhà phê bình mình bằng sự khinh thị diễn tuồng.

Thompson tiếp tục nói:

Mặc dù sự xuất hiện này đã trở thành tiêu đề trên khắp thế giới, nhưng dường như nó không làm ĐGH bị suy yếu. Có một chút đấu tranh trên đường phố của người theo chủ nghĩa duy tâm về Jorge Bergoglio. Như các bạn đồng tu Argentinian của ngài biết quá rõ, ngài thoải mái tạo ra kẻ thù miễn là tin rằng mình có thế lực. Các áp phích truyền tải cơn thịnh nộ bất lực: chúng như không có khả năng mang dấu ấn của các nhà quyền lực cao cấp trong giáo hội.

Nhưng liệu ngài có quyền lực không? Dường như khi ngài đánh mất kiểm soát việc tường thuật, lợi thế đang mất đi. Đức Francis cố gắng, có lẽ một chút háo hức, để xem nhẹ sự việc. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Die Zeit, ngài đã không cười khi nhìn cảnh tượng, thậm chí còn khen ngợi sự thông minh đối với những kẻ cáo trách:

ĐGH Francis nói rằng ngài đã được bình an, nói thêm: “Tôi có thể hiểu cách thức đối phó với những việc của tôi mà không phải ai cũng thích, điều đó hoàn toàn đúng theo lẽ thường tình. Mọi người có thể có ý kiến của họ. Đó là phải lẽ và nhân tạo phong phú”.

Khi người phỏng vấn tiếp tục hỏi xem những tấm áp phích có phong phú không, đức Francis trả lời “phương ngữ La Mã của các áp phích rất tuyệt. Nó đã được viết không phải bởi một kẻ nào đó qua đường nhưng bởi một người thông minh”. Người phóng viên nói xen vào ”Ai đó từ Vatican?”, nhưng đức Francis đã bực bội “Không, tôi nói là một người thông minh (cười)”. Ngài kết luận

“Dù bằng cách nào, điều đó cũng thật là tuyệt vời!”.

Thật vậy, thật ra, có một cuộc điều tra tội phạm đang diễn ra ở Ý vào chuyện “những người bảo thủ bị nghi có trách nhiệm” cho những tấm áp phích. Và khi một ấn bản nhái của L’Osservatore Romano được xuất bản cùng tháng với các áp phích, cũng châm biếm đức Francis, Vatican cũng đã tiến hành cuộc điều tra của cảnh sát về vấn đề này. Nếu những tin đồn liên tục được người ta tin, thì phản ứng của đức Francis đối với những lời chỉ trích khi ngài ở đằng sau những cánh cửa đóng kín sẽ ít lạc quan hơn khi các máy quay đang vận hành. Và khi phạm vi phủ sóng rộng rãi của chúng tôi về kiến nghị dubia cho thấy, đức Francis không chút ngần ngại sử dụng các đại diện để tấn công bất cứ ai cản đường ngài.

Những phản ứng này cho chúng ta biết điều gì đó rất quan trọng: sự phản kháng không phải là vô dụng. Nó đang có hiệu lực.

Thực tế cho người Công giáo là chúng ta đã đạt đến một điểm bảo hòa – hãy gọi đó là đỉnh Francis – và chẳng có nơi nào để đi từ đây ngoại trừ đi xuống. Điều này có nghĩa là đối với những người nổi loạn – kẻ đã kiểm soát Hội Thánh Mẹ, sẽ ít có lợi hơn vào thời điểm này trong việc sử dụng sự gian xảo; Khó có thể đạt được mục đích thông qua sự giả trá hoặc tiếp tục theo đuổi sự tín nhiệm của các tín hữu; Chỉ có một chương trình nghị sự đang được tiến hành triệt để vốn cần phải được củng cố vững chắc trước khi chức vị giáo hoàng này trở thành, như chắc chắn nó sẽ, một điều (không vui) đáng nhớ . Fernández cảnh báo chúng ta rằng vì thời gian ngắn, mọi thứ sẽ tăng tốc. Nhưng tốc độ thay đổi rất ngoạn mục, thậm chí liều lĩnh, rằng nó đã đánh thức các tín hữu khỏi một sự tự mãn hàng thập kỷ. Có lẽ vì lý do này mà những ai cẩn trọng hơn về hàng giáo sĩ – người đã dành vô số năm để dần dần thay đổi vĩnh viễn giáo hội – giờ đây đang muốn làm cho đức Francis biến mất. Họ đã tung ra một vũ khí mà họ không thể kiểm soát, và nó phá hoại nguyên cớ của chính họ cũng như của những kẻ thù của họ.

Như tôi đã nói ở trên, đó là không thể tổng hợp đầy đủ toàn bộ chuỗi vấn đề được đưa ra bởi giáo hoàng này. Nhưng để có cái nhìn bao quát, phản ánh một thời gian ngắn về một số vấn đề chính diễn ra trong nhiệm kỳ ngắn của đức Francis, chúng ta sẽ thấy rằng họ rất ngạc nhiên về sự táo bạo và phạm vi của họ.

Động lực chính của chiến dịch để tái tạo lại Giáo Hội đã mang hình dạng của một hội nghị công giáo và hai hội đồng thượng đỉnh nhanh chóng bắt đầu quá trình dỡ bỏ Bí Tích Thánh Thể và coi nhẹ khái niệm về tội lỗi – một tiến trình thực hiện thông qua tông huấn có tính tông truyền – Amoris Laetitia – thúc đẩy ngoại tình và tiếp nhận sự hiệp thông (và các bí tích khác) đối với những người đang sống bên ngoài tình trạng ân sủng.

Trong khi đó, các khía cạnh cơ bản khác của giáo huấn và nét riêng Công giáo đã bị xói mòn. Chúng ta đã thấy giáo huấn của Giáo hội đã được thiết lập từ lâu về án tử và học thuyết về Hỏa ngục bị chiếm đoạt bởi những mâu thuẫn. Chúng ta đang bị đối xử với tần số ngày càng gia tăng đối với các câu hỏi về khả năng của một nữ phó tế. Những tiếng xầm xì cũng bắt đầu về chuyện giải phóng các yêu cầu độc thân của chức tư tế theo nghi thức Latinh. Dưới sự lãnh đạo của đức Francis, Vatican đã đi quá xa để cử hành di sản của cùng một Martin Luther mà trước kia đã từng bị lên án vào đêm trước ngày lễ kỉ niệm 500 năm ngày bùng nổ sự kiện dị giáo của phe Cơ đốc giáo. Chính ĐGH đã khuyến khích, thông qua các câu trả lời cho phép và không rõ ràng, việc tiếp nhận Rước Lễ bởi các cá nhân Tin Lành, vi phạm cả kỷ luật bí tích và giáo luật lâu đời. Cùng quỹ đạo này, giờ đây chúng ta nghe tin đồn thường xuyên về kế hoạch sửa đổi Thánh lễ, điều này sẽ làm cho nó trở thành một buổi cầu nguyện đại kết có thể được tổ chức cùng với Tin Lành – một câu trả lời khả dĩ đối với sự thúc đẩy ngày càng nhiều tin đồn Trong Giáo hội về sự liên kết. Buồn thay, điều này thật đáng ngạc nhiên bởi một vị giáo hoàng đã chứng minh sự phản đối của ngài đối với sự phúc âm hóa (chủ thuyết đạo đức, như ngài gọi), và ai đang rõ ràng tỏ ra xem thường Thánh Thể mà lẽ ra người ta phải quỳ xuống trước Thánh Thể. Một số người đã đặt câu hỏi liệu đó có phải là kết quả của một số khuyết tật thể xác, nhưng đức Francis đã chứng minh rằng ngài có thể quỳ ở những dịp khác, chẳng hạn như rửa chân của người Hồi giáo vào Thứ Năm Tuần Thánh. (Ví dụ gần đây nhất về thái độ đối với Thánh Thể lạ lùng của ngài đã thu hút sự chú ý của chúng tôi qua những hình ảnh về cuộc tĩnh tâm của ngài trong tuần qua ở Arricia.)

Những suy tư thần học của ĐGH Francis bao gồm ý tưởng rằng không có Thiên Chúa Công giáo; Rằng những người vô thần cũng được cứu rỗi; Rằng phép lạ về bánh và cá không phải là phép lạ thực sự của sự nhân lên; rằng Chúa Jêsus thích điều đó khi chúng ta nói với Người rằng chúng ta đã phạm tội và sẽ phạm tội lần nữa, rằng điều răn thứ nhất và trọng nhất là tình yêu tha nhân và Đức Trinh Nữ Maria muốn tố cáo Thiên Chúa là kẻ nói dối – đây chỉ là một vài thí dụ điển hình.

Và sau đó có sự phát quang của giáo hoàng: đức Francis ôm lấy các nhà lãnh đạo cộng sản và các biểu tượng và chế độ trong khi từ chối những người muốn bảo đảm biên giới của họ và đảm bảo an ninh kinh tế. Cách tiếp cận độc tài của ngài đối với việc trị vì, từ việc đàn áp tàn bạo các anh em dòng Phanxicô của Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đến việc nảy sinh nhà Độc Tài của Lòng Thương Xót, đến việc rình rập Bộ Phụng Tự và Học viện Giáo hoàng về Sự sống, đến việc tấn công vào các Học viện Hôn nhân và Gia đình của Đức Gioan Phaolô II, đến chuyện loại bỏ một cách có hệ thống ĐHY Burke khỏi mọi vị trí có ảnh hưởng trong giáo triều, đến việc  tháo dỡ chủ quyền của các Hiệp sĩ của Malta và sự chặt đầu của họ để đổ lỗi cho ĐHY Burke toàn bộ vụ việc. Cũng xem thêm ngài ôm lấy chủ nhân một loạt các hình ảnh liên quan đến biến thái tình dục, bao gồm nhưng không có giới hạn đối với người quản lý bị đồng tính luyến ái của gia đình giáo hoàng, Msgr. Battista Ricca, người mà giáo hoàng nổi tiếng với câu nói, “Tôi là ai mà phán xét?”. Sự bổ nhiệm của ngài cho một linh mục nổi tiếng vì so sánh tình dục đồng giới với Thánh Thể với tư cách là một cố vấn cho Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình. Sự khoan hồng của ngài đối với những tu sĩ lạm dụng tính dục như Fr. Inzoli và các nhà kích động lạm dụng tính dục như Hồng Y Daneels. Trong một tĩnh mạch tương tự, chúng ta còn phải tự hỏi tại sự bổ nhiệm của ngài làm kẻ đứng đầu Học viện Giáo hoàng về Sự sống và khuôn viên Rôma thuộc Học viện Hôn nhân và Gia đình JPII đối với ĐTGM Paglia – một người đã từng bị tiết lộ đã đặt vẽ một bức tranh tường có nội dung khiêu dâm đồng giới ngay tại một nhà thờ chính tòa mà ngài cai quản cách đây một thập kỷ và là người chỉ mới tháng này thôi đã công khai khen ngợi “một nhà vô thần cánh hữu cực đoan – kẻ muốn hợp pháp hoá mại dâm và thông cảm với những kẻ ấu dâm”. Chúng ta cũng được luận giải đối với một cuộc vận động ủng hộ của giáo hoàng về sự di cư ồ ạt giữa lúc ngài bác bỏ hoàn toàn sự tồn tại của những người Khủng bố Hồi giáo, hoặc rằng Hồi giáo là một hệ tư tưởng ủng hộ bạo lực; Việc ngài cho phép sử dụng Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô cho một chương trình chiếu sáng sinh thái ngay vào ngày Lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Nhiều điểm liên quan đến George Soros, tác phẩm của ông với Jeffrey Sachs – người ủng hộ kiểm soát dân số LHQ, sự gần gũi của ngài với nhà nạo phá thai người Ý tên là Emma Bonino, lời mời của ngài đối với Paul Erlich là kẻ vận động kiểm soát dân số toàn cầu và phá thai để nói chuyện tại Vatican, và nhiều hơn thế nữa.

Nó hoàn toàn là một danh sách hoàn toàn đáng kinh ngạc. Nhưng nó cũng là một điều không thể phủ nhận. Bối cảnh văn hoá của chúng ta không giống như trong Công đồng Vatican II, hay thậm chí việc ban hành Humanae Vitae. Trong những năm ân oán đó (đối với những người cấp tiến), Giáo Hội đã hoàn toàn kiểm soát được câu chuyện  qua trọng lượng của nhân phẩm và tầm vóc toàn cầu của mình. Tuy nhiên, vào năm 2017, các nguồn gần gũi với Vatican đã nhiều lần nói với chúng tôi rằng sự thiếu cân đối về thể chế trong việc hiểu rõ thế giới bị chi phối bởi các phương tiện truyền thông xã hội, không thể bị đánh giá thấp. Họ không hiểu Internet. Và Internet đang cầm giữ họ.

Nhưng Vatican có thành viên mới đầy nhiệt huyết. Greg Burke, cựu phóng viên của Fox News và phóng viên Time Magazine đã tiếp nhận vị trí của cha Frederico Lombardi với cương vị Giám đốc Văn phòng Báo chí của Vatican hồi năm ngoái. Đức Francis gần gũi các giám mục của Giáo Hội Đức vốn rất được tài trợ và khéo léo, những người có nguồn lực để thuê chuyên gia tư vấn để cứu vãn những điểm yếu của họ. Vai trò như thường lệ không thể được giả định vĩnh viễn.

Tôi đã đề cập đến trong các bài báo trước đây rằng tin đồn, luôn là trung gian chuyển tải thông tin quanh Vatican ngay cả trong thời điểm tốt nhất, đã gia tăng phạm vi và tầm quan trọng trong những ngày cuối của thời kỳ phong chức đức Francis. Từ những email thẳng thắn nhưng bí mật được nhận từ những độc giả có kết nối tốt đến các blog rò rỉ như của linh mục Fra Cristoforo người Ý được xác nhân nhưng vô danh, đến một tài khoản Twitter “Rogue Swiss Guard” gây chọc tức nhưng tồn tại trong thời gian ngắn ngủi, một Báo chí Công giáo thiếu thông tin lại có quá nhiều tài liệu tiềm năng để làm việc với nội dung đáng xem. Do đó, đây cũng là một cơ hội giàu có đối với kẻ thù của các nhà phê bình giáo hoàng để phao những tin đồn giả dối và làm giảm uy tín của những người sẵn sàng trình bày chúng mà không có sự xác minh. Cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2016 đã làm chúng tôi chú ý đến thực tế của các trang web tin tức giả tạo được tạo ra bởi phe chính trị cánh Tả nhằm phổ biến thông tin sai lệch và làm mất uy tín những người chia sẻ nó. Các trang Wikileaks gần đây đã chỉ ra rằng các chiến lược tương tự có thể đã được triển khai trên các trang truyền thông xã hội và trong các hộp bình luận, với mục đích tạo ra nhầm lẫn và gián đoạn. Có thêm bằng chứng cho thấy sự kết nối Vatican với tầng lớp thượng lưu đang tiến triển, bao gồm cả các tuyên bố mới rằng những quyền lực chính trị này gây áp lực cho ĐGH Bênêđictô XVI phải từ chức –  phương pháp gán ghép di chuyển từ lãnh vực suy đoán đến xác suất.

Khả năng chiến thuật tương tự được sử dụng bởi những con người đầy quyền lực trong Giáo hội – những nguồn thân thiết với những tin tức Công giáo giả tạo nhằm chuyển tải đến những người chỉ trích những tung tin có vẻ đáng tin cậy nhưng mang tính phá hoại – biến một chu trình tin tức nhanh chóng không có thật thành một bãi mìn thật sự. Các nhà quan sát Giáo hoàng đang bị buộc phải giảm tốc độ để tránh một sai sót lớn chỉ khi tốc độ các sự kiện của Vatican lên tới mức sốt.

Đây là lý do tại sao chúng ta phải nhớ rằng chủ đề của công việc chúng ta không chỉ là lĩnh vực công việc của con người. Không ai khác ngoài trừ chính Thiên Chúa đang sắp xếp các lực lượng trong trận chiến này cho Giáo hội Công giáo, và nếu chúng ta không thể nhìn xuyên qua sương mù chiến tranh rất dày đặc, chúng ta có thể tin tưởng vào Đấng chỉ huy hiểu thấu mọi sự của chúng ta để ban cho chúng ta các lệnh diễu hành cần thiết cho cuộc chiến đấu sắp tới.

Đừng sai lầm: những ngày của chức vụ giáo hoàng này đang được đánh số – và khi nó mất đi, hiểm nguy mà nó đại diện cho đức tin sẽ chỉ tăng lên. Sẽ mất hàng chục năm để hoàn tác những thiệt hại đã bị gây ra. Với ít mất mát và còn nhiều điều để hoàn thành, Đức Francis và các đồng minh của ngài không thể bị trì hoãn – đặc biệt khi không có sự bảo đảm của một người kế nhiệm có cùng chí hướng trong cuộc họp tiếp theo. Thời gian để củng cố sự thay đổi không thể đảo ngược trong Giáo Hội là lúc này.

Đã qua rồi những ngày mà nhiệm vụ chính của chúng tôi là thuyết phục thế giới Công giáo rằng đang có một vấn đề. Vấn đề đã được nhận ra bởi những người có mắt để nhìn, và khi sự việc trầm trọng, chúng ta phải nhận ra rằng chúng ta là David đối đầu với Goliath là phe đối nghịch. Với các hồng y chống đối các hồng y, giám mục chống đối giám mục – và các nguyên tắc cơ bản của niềm tin Công giáo, chủ đề tranh luận – như chúng ta biết, Giáo hội không thể thoát chết.

Hãy tự mình kiên vững. Cuộc chiến thực sự mới chỉ sắp bắt đầu.

TC chuyển dịch từ: onepeterfive